Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011

Nhận định thị trường tuần 1 tháng 4

Thông tin cơ bản

Giá xăng tăng 2000đ/l có thể làm chi phí vận tải được điều chỉnh 8-10% và giá xi măng được điều chỉnh 150.000 đồng tấn sẽ ảnh hưởng tới giá nhóm vật liệu xây dựng và nhà ở. Đây là hai mặt hàng tác động khá lớn chỉ số CPI tháng 3 vừa qua. Mặc dù nhóm thực phẩm đã giảm giá trong tháng 3 nhưng tác động của việc điều chỉnh này sẽ hãm đà giảm của CPI trong tháng 4. Đây là điều khá lo ngại.

Lãi suất liên ngân hàng chạm mức 23% và lãi suất tiền gửi không kỳ hạn lên tới 9% trong tuần qua chi ra rằng thanh khoản của nhiều ngân hàng đang gặp vấn đề rất lớn. Nghị quyết 11 về giải pháp bình ổn vĩ mô , trong đó đề cập tới kiểm soát chặt tiền tệ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hệ thống ngân hàng khiến cho cuộc đua tăng lãi suất cải thiện thanh khoản còn diễn ra ở phía trước

Chính phủ đồng ý giãn thuế 1 năm cho doanh nghiệp, thông tin này đã được công bố sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết phần nào khó khăn về tình hình tài chính trong giai đoạn lãi suất đang cao như hiện nay

Thị trường vàng và ngoại tệ không có nhiều biến động lớn trong tuần sau hiệu lực của nghị quết 11 được thực thi trước đó. Với lãi suất cao như hiện nay, nhiều khả năng dòng tiền sẽ chọn kênh này để giải ngân

Đánh giá thông tin

Tổng hợp các thông tin vừa trên cho thấy bức tranh vĩ mô chưa có gì sáng sủa. Cần thêm nhiều thời gian để những động tác can thiệp theo NQ11 có hiệu lực. Nhiều khả năng CP sẽ tăng DTBB trong thời gian tới và bãi bỏ tỷ lệ LDR để giảm giá cost cho các bank. Ngoài ra, tín hiệu giúp cải thiện thanh khoản của CP cho các bank nhỏ cũng đã được nêu ra trong những ngày gần đây. Hy vọng sẽ có những tín hiệu tích cực trong thời gian tới.

Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán trong tuần biến động trong dải giá hẹp. Điểm đáng chú ý trong tuần qua là hiện tượng chênh lệch khá lớn về lợi nhuận theo kiểm toán và số công bố trước đó ảnh hưởng khá lớn tới long tin nhà đầu tư. Có vẻ như thanh khoản thị trường ngày càng giảm khi khối lượng khớp lệnh trong tuần này nhỏ hơn tuần trước khi thị trường chưa có tín hiệu nào tích cực từ vĩ mô. Dự báo thị trường sẽ tiếp tục giao dịch trong dải giá hẹp và không có quá nhiều biến động lớn khi mà những tín xấu đã phản ánh vào giá cổ phiếu trước đó. Tuy nhiên, những điều chỉnh về chính sách vĩ mô sẽ tạo ra bước ngoặt về xu hướng mới cho thị trường

Kỹ thuật

Thị trường đang có đợt hồi phục nhẹ vào cuối tuần sau nhưng phiên giảm điểm trước đó. đường MFI đang tiệm cận giải phía dưới và MACD đang có tín hiệu ủng hộ cho xu hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, BBs đang thu hẹp và đường xác định trend cho dấu hiệu thị trường vẫn trong kênh giảm giá.

Đề xuất

Chưa có nhiều tín hiệu tích cực ủng hộ cho một sự hồi phục trong trung hạn. Những sự điều chỉnh về chính sách vĩ mô trong thời gian tới sẽ tạo ra những ảnh hưởng khó lường trước được về tâm lý nhà đầu tư nên khả năng sẽ có sự điều chỉnh giảm giá của CP trong thời gian tới.

- Không trading và tạm thời giữ nguyên danh mục chờ đợi tín hiệu tăng giá

- Tăng tỷ lệ tiền nếu CP tăng giá tốt.

Các câu hỏi về tăng trưởng tín dụng!

Mấy hôm nay đọc báo, mình thấy thường nhắc đến việc Tăng trưởng tín dụng trong cả nước hiện nay đang vượt quá 30%, mình có nhiều điểm thắc mắc, các bạn giúp mình giải đáp:

1. Tăng trưởng tín dụng là gì?

(Theo như mình hiểu, nếu như tổng dư nợ tín dụng cuối năm 2008 là 1.000 tỷ VNĐ và đến thời điểm hiện tại là 1.300 tỷ đồng, thì có phải là "tăng trưởng tín dụng" đạt 30% không? =[(1.300-1.000)/1.000]x100%.

2. Khống chế tăng trưởng có tác dụng gì trong tình hình kinh tế hiện nay?

3. Một số bài báo nói rằng các Ngân hàng đang tích cực huy động tiền gửi để khắc phục tình trạng tăng trưởng tín dụng vượt 30%. Tiền gửi có liên hệ gì đến tăng trưởng tín dụng? Nếu muốn giảm tăng trưởng tín dụng thì phải giảm dư nợ mới đúng chứ (Theo cách hiểu của mình về tăng trưởng tính dụng).

Mình mới chập chững bước vào ngành tài chính. Rất mong được các bạn giúp đỡ. Chân thành cám ơn và chúc một cuối tuần vui vẻ.

----------------------------------------------------------------

Về câu 1, cách hiểu của bạn là hợp lý và hoàn toàn chính xác.

Tuy nhiên, dư nợ tín dụng có hai cách tính là dư nợ tín dụng bình quân và dư nợ tính dụng cuối kỳ.

Ví dụ: dư nợ tín dụng cuối kỳ vào ngày 30.9.2009 của toàn TP.HCM là 540.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ cuối kỳ năm 2008 ( 31.12.2008) là 500.000 tỷ như vậy tăng trưởng dư nợ = (540/500 ngàn tỷ -1)x100%.

Tuy nhiên, dư nợ là số biến động hàng ngày, nên các ngân hàng thường tính dư nợ bình quân. đó là dư nợ bình quân trong tháng,

Còn dư nợ 30.9 là dư nợ cuối kỳ, được tính vào thời điểm 30.9.

Câu 2: Khống chế tăng trưởng tín dụng tức là khống chế việc cung tiền cho nền kinh tế.

Cho vay là chi tiền ra cho người vay, như vậy tăng thêm lượng tiền vào lưu thông.

Trong khi người vay chỉ dùng tài sản để đảm bảo hoặc dùng tín chấp, như vậy lượng tiền cung ra nhiều nhưng lượng hàng hóa không tăng lên tương ứng, nhất là khi người vay dùng tiền để đầu tư kinh doanh Bất động sản hoặc chứng khoán.

Khi lượng tiền tăng nhiều hơn lượng hàng hóa => Thừa tiền trong nền kinh tế => tăng lạm phát.

Mục đích chính của việc hạn chế cho vay là giảm lạm phát, khống chế tăng trưởng tín dụng 30% là để đảm bảo lạm phát ở mức phù hợp và có thể kiểm soát được.

Câu 3: Nói mấy bác nhà báo đừng buồn chứ việc huy động tiết kiệm để bù đắp tăng trưởng tín dụng là suy diễn của giới nhà báo, hoặc có thể nghe nhưng chưa tường tận nên nói tắt làm bạn hiểu nhầm.

Ngân hàng cho vay thì lấy tiền từ đâu: Từ huy động tiết kiệm ( thị trường này gọi là thị trường 1), nguồn vốn của chính ngân hàng (tuy nhiên chẳng ai đem vốn điều lệ cho vay cả trừ khi ngân hàng mới ra không biết dùng tiền làm gì), huy động trên thị trường 2 (liên ngân hàng - có nghĩa là vay lại các ngân hàng khác).

Cho vay từ nguồn vốn trên thị trường 2 là vi phạm nguyên tắc cân đối về thời gian, vì thị trường 2 (các ngân hàng cho vay lẫn nhau) dùng chủ yếu để đảm bảo tính thanh khoản và thời gian cho vay là ngắn hạn). Thực tế nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng nóng đã dùng tiền vay ở thị trường 2 để cho vay, nên phải nhanh chóng huy động tiết kiệm để trả lại cho thị trường 2 nếu không muốn bị khó khăn hoặc mất khả năng thanh toán, vì các khoản tín dụng đã cho vay khách hàng dễ gì mà giảm được trong thời gian ngắn.

Bạn cho người khác vay 1 tỷ, thời gian 1 năm, bạn có thể lấy được tiền trước hạn không? có thể nhưng rất khó. Ngay cả khi đến hạn bạn có thể không cho vay tiếp không? khi chẳng ngân hàng nào cho vay vì ai cũng kẹt hạn mức tăng trưởng 30% trong khi khách hàng vẫn có nhu cầu tiếp tục vay vốn để duy trì kinh doanh, chưa nói lượng tiền vay của họ còn nằm trong hàng hóa hoặc tài sản mà chưa thu hồi tiền kịp.

Chung quy, như bạn nghĩ là hoàn toàn chính xác, việc tăng trưởng tín dụng 30% và huy động vốn chẳng ăn nhằm gì với nhau.

Huy động là đảm bảo tính thanh khoản, để có tiền cho vay, để đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, tức là có tiền chi trả cho khách hàng tiết kiệm đến hạn trong khi các khoản vay chưa thu hồi được, đặc biệt trong tình hình các khoản tiết kiệm thì gửi kỳ hạn 1 vài tháng trong khi cho vay 6-12 tháng hoặc dài hơn.

---------------------------------------------------------------

Đọc bài của bạn mình thấy mở mang được rất nhiều, tuy nhiên có 1 số vấn đề mình vẫn chưa thực sự hiểu rõ lắm, mong bạn giải đáp giúp.

Bạn nói "Việc tăng trưởng tín dụng 30% và huy động vốn chẳng ăn nhằm gì với nhau", nhưng theo mình hiểu khống chế tăng trưởng tín dụng tức là khống chế việc cung tiền ra nền kinh tế, như vậy việc huy động vốn vào để giảm lượng tiền đang lưu thông là một giải pháp cực kỳ hữu hiệu cho việc khống chế tăng trưởng tín dụng đó, có chăng nó không ăn nhằm với nhau là ở con số 30% thôi chứ. Không biết như vậy có đúng không?

-----------------------------------------------------------------

Bạn nói có lý thật. Đúng là huy động tiết kiệm và tăng trưởng tín dụng 30% không ăn nhằm gì nhau là ở con số 30%.

Nhưng điều vô lý các bạn sẽ thấy: Đã khống chế tăng trưởng tín dụng thì huy động vốn vào để làm gì?

Để tiền cất trong kho, mỗi tháng trả lãi cho người gửi tiết kiệm à.

Huy động là để cho vay.

Thế không cho vay được nữa huy động làm gì? mà các bạn có thấy rất nhiều ngân hàng đua nhau tăng lãi suất: Đông Á có " Siêu lãi suất", Sài Gòn Bank có lãi suất siêu cao ? với mức lãi 9,99%/năm.

Tăng lãi suất huy động cũng không tăng được lượng tiền trong dân cư vì lãi có bao nhiêu thì họ cũng có chừng đó tiền.

Tăng lãi suất huy động không phải để hút tiền từ nền kinh tế vào kho tiền để cất. Không cất thì làm gì, vì có cho vay được đâu, vượt trần tăng trưởng 30% rồi.

Tăng lãi suất để:

1. Đừng cho khách hàng của mình chạy qua ông ngân hàng khác. Tiền không tự nhiên sinh ra mà cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chạy từ két ngân hàng này qua ngân hàng khác.

2. Để bù đắp thanh khoản: Vì hồi trước giờ một số ngân hàng huy động từ nền kinh tế thì ít mà cho vay nhiều nên thiếu tiền, thiếu tiền thì phải vay ngân hàng khác (thị trường 2), nên phải tăng huy động để trả lại cho các ông ngân hàng khác. Do đó, trước đây mình mới nói là các bác nhà báo nói không rõ làm bạn hiểu nhầm vì sao tăng trưởng tín dụng 30% giờ phải tăng huy động. Tăng là lý do này, cho vay nhưng thiếu tiền, giờ huy động để bù đắp, con số 30% không có ý nghĩa gì ở đây cả.

Do vậy, bạn nói ngân hàng tăng huy động là để giảm lượng tiền trong lưu thông là chưa thật phù hợp lắm:

- Giảm cung tiền cho nền kinh tế, là để lượng tiền trong nền kinh tế không tăng thêm.

- Còn việc tăng huy động là nhằm rút bớt lượng tiền đi. Mà các ngân hàng tăng huy động như các lý do ở trên không phải là chủ ý của ngân hàng Nhà nước. Vì Ngân hàng nhà nước đâu có tăng dự trữ bắt buộc hay tăng lãi suất cơ bản đâu (nhiều tháng nay lãi suất cơ bản cũng là 7%/năm). Khi nào bạn thấy báo chí cho biết ngân hàng nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì lúc đó nhà nước đang muốn giảm lượng tiền trong lưu thông xuống đó.

Ví dụ vui:

Bạn có 1 triệu, bố bạn sợ bạn xài nhiều, thay vì gửi thêm cho bạn 500, thì chỉ gửi thêm 300, nên bạn có 1,3 triệu. Tối dắt người yêu đi chơi, xem ca nhạc .v.v. và v.v hết 600, còn lại 700.

Khác với việc bố bạn nói Thanh à, đưa lại bố 300, bố cất giúp cho chứ không lại dẫn người yêu đi chơi hoài, nên lúc này bạn chỉ còn 700, mà chẳng được đi chơi với người yêu bữa thật "hoành thánh".

300 kia bố bạn làm gì?, đem đưa cho mẹ bạn, và nói hôm trước "Hôm trước con nói cần tiền gấp nên anh có mượn anh cả mấy trăm, đưa cho con tiêu, giờ thấy nó nhiều quá nên lấy lại cất giùm cho con, nhưng em đem trả bác cả giùm anh, để bữa sau còn mượn tiếp chứ"

-------------------------------------------------------------------------

Bác nói cũngđúng nhưng chưa đủ vì Bản chất của Ngân hàng là đi vayđể cho vay, mà mấy ông nhà báo nói thì cũng có lý đấy vì họ chỉ cần hiểu đơn giản và giải thích đơn giản như thế là cũng tạm được rùi (đấy là theo em đấy nhé). Bởi nhiều người dân cu đen như em cũng chỉ biết được thế thui. Ngày nay các Ngân hàng không chỉ thực hiện đi vay để cho vay nữa mà còn có nhiều dich vụ GTGT nữa họ huy động được một phần như Bác nêu phần khác để còn để cho vay và đầu tư nữa chứ Bác nhỉ. Mong Pác chỉ giáo thêm

------------------------------------------------------------------------

Không dám nói là chỉ giáo, bạn nói quá đúng rồi.

Hiển nhiên, ngân hàng còn dùng tiền huy động để đầu tư và kinh doanh nữa chứ, nhưng dù sao thì hoạt động của các ngân hàng Việt Nam tỷ lệ thu nhập từ hai mảng dịch vụ truyền thống huy động và cho vay là chính yếu.

Nói về đầu tư của ngân hàng thì quá phức tạp: Thử hỏi về huy động vàng

Các ngân hàng huy động vàng vào để làm gì ? Hiển nhiên cho vay lại, nhưng có mấy ai vay vàng, vàng còn lại cất trong kho ah,

Hiển nhiên, một phần cất trong kho dự phòng cho chi trả,

Một phần lớn đem bán kiếm lời,

Một phần chuyển ra tiền đồng để cho vay ( theo quy định của NHNN thì chỉ được chuyển vàng vật chất thành tiền để cho vay, nhưng tối đa không quá 30% lượng vàng huy động được)

Có nhiều người gửi tiết kiệm vàng hỏi, thế vàng thỏi, hay chỉ vàng đeo tay có gửi được không, ông bà già tôi có cả hủ vàng có gửi được không? Vàng nào cũng là vàng mà.

Theo các bạn như thế nào? Hiển nhiên, ngân hàng chỉ nhận vàng nào có thể đem kinh doanh ngay được và có thể hoàn trả được, còn không nếu là vàng trang sức thì bạn chỉ đem gửi ngân hàng giữ hộ và mất phí giữ hộ chứ làm gì được lãi

và do đó các Ngân hàng mới huy động vàng miếng có thương hiệu SJC, PNJ ....

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

Nhận định thị trường tuần 3 tháng 3

Thông tin cơ bản

CPI liên tục duy trì ở mức cao trong 3 tháng và lập đỉnh 2.17% trong tháng 3, lũy kế 6% cho thấy bức tranh không mấy sáng sủa của kinh tế vĩ mô. Nhìn chi tiết con số trong rổ hàng tính CPI thấy rằng, nhóm giao thông và VLXD ảnh hưởng khá đáng kể tới chỉ số lạm phát tháng 3 này sau việc điều chỉnh giá xăng và ngoại hối tháng trước đó. Nhiều khả năng mức ảnh hưởng của hai việc điều chỉnh còn ảnh hưởng tới CPI cho tháng 4 này. Tuy vậy, giá cả của nhóm thực phẩm đã cho tín hiệu hạ nhiệt sau dịp tết có thể kéo chỉ số CPI đi xuống kể từ tháng 4. Quan sát các mẫu CPI các năm trước thấy rằng, CPI có khuynh hướng hạ rất nhanh sau những tháng CPI lập kỷ lục. Do đó, tôi kỳ vọng CPI của tháng sau sẽ giảm nhanh và CPI tháng 4 sẽ ở mức dưới 1%.

Theo báo cáo TLS, SBV đã hút ròng 24.000 tỷ đồng trên OMO từ đầu năm. Tiếp theo thông điệp siết chặt tín dụng và hạn chế tăng trưởng tín dụng thì dòng tiền của các banks dường như đang căng thẳng. Các ngân hàng đã tham gia chơi game trên OMO hiện cũng đang gặp khó khăn trong việc huy động nguồn để đáo hạn các khoản vay này. Hậu quả là lãi suất sẽ tiếp tục ở mức cao và các ngân hàng nhỏ sẽ phải chạy đua lãi suất để hút nguồn cải thiện thanh khoản như trường hợp SEABANK

Thị trường ngoại tệ đã hạ nhiệt và tỷ giá hiện đang giao dịch ở mức 21150-21200 sau đợt can thiệp mạnh của chính phủ. Tiếp theo việc can thiệp này, có thể thấy tình trạng căng thẳng USD tại các ngân hàng đã dịu lại khi lãi suất huy động USD giảm nhẹ ở các kỳ hạn của nhiều ngân hàng.

Thị trường vàng cũng không có nhiều biến động sau động thái can thiệp và thông điệp dập tắt thị trường vàng tự do của CP.

Thông tin thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán giao dịch trong tuần chưa có nhiều cải thiện trong tuần qua. Điểm đáng chú ý là hành động tái cấu trúc danh mục của ETFs từ BVH sang VCG và CTG. BVH giảm điểm đã ảnh hưởng đáng kể đến chỉ số Vnindex và tâm lý thị trường. Ngoài ra động thái bán ròng của ETFs để trả lại các khoản redemption trong Q1 đã tạo áp lực giảm giá lên nhiều mã CP bluechips khác.

Tâm lý nhà đầu tư chưa thoát trạng thái năng nề khi chưa có tín hiệu nào tích cực từ vĩ mô. Tin đồn tăng giá xăng, tăng dự trữ bắt buộc và lãi suất cơ bản có thể tạo hiệu ứng thị trường theo hướng tiêu cực trong những ngày sắp tới

Phân tích kỹ thuật

RSI, MFI: đang ở mức trung bình và có dấu hiệu xấu đi cho thấy thị trường có khả năng giảm điểm thêm

MACD: cho xu thế phân kỳ âm

Trend verification index: cho thấy trend thị trường trên đà giảm giá

Kết luận:

Canh giá tốt chốt những mã cổ phiếu có lời

Cơ cấu danh mục theo hướng gia tăng tỷ lệ tiền mặt

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Nhận định thị trường tuần 2 tháng 3

Ngày 8/3/2011, Ngân hàng Nhà nước Vit Nam (NHNN) đã ban hành Quyết đnh s 379/QĐ-NHNN v lãi sut tái cp vn, lãi sut tái chiết khu, lãi sut cho vay qua đêm trong thanh toán đin t liên ngân hàng và cho vay bù đp thiếu ht vn trong thanh toán bù tr ca NHNN đi vi các ngân hàng: 12,0%/ năm. Đây có thể là dấu chấm hết cho vị thể tiền rẻ của các ngân hàng thương mại lớn và cho thấy chình phủ đang thể hiện rõ quyết tâm ổn định vĩ mô trong trung và dài hạn. Ngoài ra, chính phủ cũng thực hiện việc chấn chỉnh việc tuân thủ lãi suất trần huy động 14% của ngân hàng. Tuy nhiên ảnh hưởng của chỉ thị giảm tỷ trọng vay khu vực phi sản xuất xuống còn 16% đến hết tháng 6 và tăng trưởng tín dụng dưới 20% làm cho nhiều ngân hàng đang gặp khó. Các ngân hàng đang duy trì lãi suất cho vay cao 19-21% và đầy lãi suất USD lên cao (8-9%). Do đó, trong ngắn hạn lãi suất chưa thể hạ xuống thấp
Ngoài việc kiểm soát hoạt động khối ngân hàng, tuần qua chính phủ cũng đã mạnh tay kiểm soát thị trường vàng và ngoại hối. Vụ bắt 400.000 USD giao dịch trái phép ngày hôm qua sẽ giúp cho thị trường USD hạ nhiệt. Dự báo trong tuần sau, dòng ngoại tệ sẽ chảy vào ngân hàng sẽ giúp cho lãi suất ngoại tệ sẽ ổn định hơn
Thị trường chứng khoán: thị trường giao dịch tuần qua duy trì ở khối lượng thấp khi chưa có nhiều thông tin từ vĩ mô hỗ trợ. Việc tăng điểm của index đa phần vào viêc tăng giá của một số mã vốn hóa lớn. Nhìn vào ngắn hạn, rõ ràng là nhà đầu tư chưa thật sự tin tưởng vào một sự phục hồi của thị trường trong tương lại gần nên hôm nay việc tăng giá của thị trường là do việc tiết cung cổ phiếu và động thái mua lại hàng của những nhà đầu tư lướt song đã bán trước đó. Cá nhân tôi cho rằng việc phục hồi này sẽ nhanh và mạnh do những nhà đầu tư short hàng không mua trả lại kịp, nhưng việc phụ hồi chỉ trong thời gian ngắn cho tới khi đón nhận dòng tiền mới vào thị trường với hy vọng rằng việc kiểm soát chặt thị trường ngoại hối và vàng, đồng thời hiệu quả của việc kiểm soát chặt việc huy động lãi suất của ngân hàng thì dòng tiền từ hai kênh này chảy qua lại kênh chứng khoán

Kỹ thuật:

Vnindex đã phá vỡ mẫu hình vai đầu vai giảm giá. Nếu phiên thứ 6 thị trường giữ nhịp tăng điểm phá vỡ ngưỡng cản 485 với khối lượng giao dịch vừa phải thì mẫu hình này không thành lập

EMAV signal: đã phát sinh tín hiệu mua ngày hôm nay nên phiên ngày mai tăng điểm sẽ củng cố việc phục hồi sẽ kéo dài thêm.

Sentiment index: đã phục hồi theo hướng lạc quan và gần đạt mức lạc quan cao nhất. Tuy nhiên, do việc index bị bóp méo do tăng giá của BVH, VIC, MSN..nên chỉ số này không đáng tin cậy. Khi xem xét nhiều CP blue chip thì chỉ số này mới bắt đầu cho chỉ báo bottom up.


Thứ Năm, 10 tháng 3, 2011

Tỷ lệ an toàn tài chính mới: “Khuyến khích” CTCK lướt sóng

Khi Thông tư 226 có hiệu lực, CTCK khó có thể tập trung quá nhiều vào hoạt động đầu tư CK, đặc biệt là cổ phiếu chưa niêm yết, công ty không phải đại chúng.

Thông tư số 226/2010/TT-BTC quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu ATTC sẽ có hiệu lực từ ngày 1/4/2011.

Tuy nhiên, cách tính mới về tỷ lệ an toàn tài chính dự kiến sẽ gây ra khá nhiều khó khăn cho những CTCK dành nhiều vốn cho đầu tư cổ phiếu OTC và góp vốn thành lập công ty liên doanh - liên kết.

Theo quy định mới tại Thông tư 226, một CTCK có tình hình tài chính được coi là "khỏe mạnh" phải đáp ứng yêu cầu tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng giá trị rủi ro không thấp hơn 1,8.

Trong đó, khái niệm vốn khả dụng được hiểu mới là vốn chủ sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền trong vòng chín mươi (90) ngày. Cách tính vốn khả dụng cụ thể theo Phụ lục được ban hành, CTCK được tính trên toàn tài sản (theo giá thị trường), trừ đi các khoản đầu tư tài chính dài hạn vào công ty con, công ty liên doanh liên kết, tài sản cố định, phải thu dài hạn, phải thu nội bộ, chứng khoán phát hành bởi tổ chức có liên quan, chứng khoán có thời gian bị hạn chế chuyển nhượng trên 90 ngày...

Theo đánh giá của nhiều CTCK, cách tính toán vốn khả dụng trong trường hợp này là chuẩn xác, không có gì phải tranh cãi. Tuy nhiên, vấn đề phát sinh lại nằm ở quy định về cách tính tổng giá trị rủi ro.

Theo quy định, tổng giá trị rủi ro được hiểu là tổng giá trị của 3 loại rủi ro bao gồm: giá trị rủi ro thị trường, giá trị rủi ro thanh toán và giá trị rủi ro hoạt động.

Rủi ro hoạt động được tính toán bằng 25% chi phí hoạt động trong 12 tháng liên tiếp (không bao gồm khấu hao tài sản cố định và trích lập dự phòng) hoặc 20% vốn pháp định, tùy thuộc giá trị nào lớn hơn.

Điều này có nghĩa, nếu một CTCK dù chi phí hoạt động ít (như ít nhân viên, phí thuê địa điểm thấp...), nhưng có vốn pháp định cao, thì rủi ro hoạt động cũng ở mức đáng kể.

Lấy ví dụ trường hợp CTCP Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), 25% chi phí hoạt động trong năm 2010 theo cách tính trên ở mức xấp xỉ 16 tỷ đồng, nhưng 20% vốn pháp định (BVSC có vốn điều lệ hơn 722 tỷ đồng, yêu cầu vốn pháp định là 300 tỷ đồng cho tất cả các nghiệp vụ), lại lên tới 60 tỷ đồng.

Giá trị rủi ro thứ hai được tính toán là giá trị rủi ro thị trường. Điều đáng nói là, hệ số rủi ro tính cho cổ phiếu, trái phiếu chưa niêm yết ở mức rất cao.

Theo quy định, hệ số rủi ro cho trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết có thời gian đáo hạn từ 1 - 5 năm là 30%, trên 5 năm là 40%, bao gồm cả trái phiếu chuyển đổi.

Cổ phiếu niêm yết trên HOSE có hệ số rủi ro là 10%, trên HNX là 15%, UPCoM là 20%, đã đăng ký lưu ký nhưng chưa niêm yết hoặc đăng ký giao dịch, cổ phiếu đang trong đợt phát hành lần đầu là 30%; của các công ty đại chúng khác là 50%; cổ phần, phần vốn góp và các loại chứng khoán khác là 80%.

Không hiểu cơ quan quản lý đánh giá gì về thị trường cổ phiếu chưa niêm yết, nhưng quy định như trên rõ ràng sẽ là… nỗi ám ảnh với những CTCK thích đi "săn hàng" bên ngoài thị trường tập trung.

Lấy ví dụ, một CTCK có thể đặt niềm tin vào cổ phiếu của một công ty chưa phải là công ty đại chúng nhưng có tiềm năng phát triển và công ty dành phần nhiều vốn của mình để đầu tư vào cổ phiếu này. Khi đó, CTCK có thể không thoả mãn được quy định về tỷ lệ an toàn tài chính tại Thông tư 226.

Trên thực tế, rất khó để có thể kiếm được một CTCK không sử dụng vốn vay vào hoạt động đầu tư…

Điều này đồng nghĩa với việc, khi Thông tư 226 có hiệu lực, CTCK khó có thể tập trung quá nhiều vào hoạt động đầu tư chứng khoán, đặc biệt là cổ phiếu chưa niêm yết, công ty không phải đại chúng.

Thứ ba là giá trị rủi ro thanh toán, được tính toán trên cơ sở các mối quan hệ tài chính vay - cho vay với các đối tác bên ngoài, với hệ số rủi ro tối đa lên tới 8% đối với rủi ro trước thời hạn thanh toán, rủi ro quá thời hạn thanh toán có thể dao động từ 16% đến 100% nếu quá hạn trên 60 ngày.

Lãnh đạo một CTCK tại Hà Nội, đơn vị vốn chỉ tập trung cho mảng đầu tư cổ phiếu, nhận xét rằng, công ty thời gian này chủ yếu đứng ngoài thị trường nên khá yên tâm khi Thông tư 226 chuẩn bị có hiệu lực.

Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, sau khi lấy BCTC quý III/2010 của nhiều CTCK công bố ra tính toán thử, thì thấy, hầu hết các CTCK đầu tư chứng khoán nhiều, phát triển mạnh hoạt động tự doanh (có cho khách hàng dùng đòn bẩy tài chính) sẽ rất khó khăn trong việc đảm bảo tỷ lệ an toàn tài chính theo quy định.

Với quy định chặt chẽ này, CTCK sẽ lựa chọn cách nào để đảm bảo yêu cầu: thu hẹp hoạt động đầu tư? chuyển hướng chỉ mua chứng khoán đã niêm yết hay một cách nào khác?

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Tăng lãi suất tái chiết khấu: ‘Liều thuốc’ bắt đúng bệnh?

Công ty Chứng khoán BIDV vừa bình luận quyết định tăng lãi suất tái chiết khấu thực chất đã “gãi đúng chỗ ngứa”, được mong chờ từ lâu,…

Ngày 9/3/2011, Ngân hàng Nhà nước (NNHN) đã ban hành quyết định nâng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ NHNN đối với các ngân hàng đã được điều chỉnh tăng lên 12,0%/ năm kể từ 08/03/2011.

Đặc biệt, trong quyết định này, lãi suất tái chiết khấu đã được điều chỉnh với mức tăng mạnh từ mức 7% lên 12%.

Ngay lập tức thông tin về tăng lãi suất này đã được nhiều nhà đầu tư cho rằng sẽ là thông tin không tốt và thực tế đã ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường chứng khoán phiên ngày 9/3/2011.

Tuy nhiên, Công ty Chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng, quyết định tăng lãi suất tái chiết khấu thực chất đã “gãi đúng chỗ ngứa”, được mong chờ từ lâu, và là “liều thuốc” bắt đúng bệnh nhất để giảm lạm phát và giảm lãi suất.

Theo BSC, với quyết định này, NHNN sẽ giải quyết tình trạng luồng tiền chạy lòng vòng trong hệ thống ngân hàng như đã xảy ra phổ biến cuối năm 2010. Động thái này cũng thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc cắt giảm đầu tư công, và về lâu dài, sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư toàn xã hội và giảm lạm phát. Ngoài ra, khi khối doanh nghiệp không còn chịu sự “lấn át đầu tư” từ đầu tư công, thì lãi suất có thể có hy vọng giảm trong tương lai gần. Do vậy, đối với thị trường chứng khoán, nên hiểu đây là quyết định mang tính tích cực thể hiện sự quyết liệt và nhất quán của Chính sách đối với mục tiêu ổn định vĩ mô năm 2011.

Theo BSC, các điểm tích cực bao gồm hai điểm sau:

Thứ nhất, việc tăng lãi suất tái chiết khấu lên mức 12% đã hạn chế cơ chế “nguồn vốn giá rẻ”, một lợi thế riêng với các ngân hàng lớn có nguồn Trái phiếu Chính phủ (TPCP) khi các ngân hàng này có thể mua TPCP và mang TPCP cầm cố tại NHNN và chỉ phải chịu mức lãi suất chiết khấu thấp. Rõ ràng, một lượng tiền lớn cung ứng ra từ NHNN được sử dụng để mua TPCP thay vì tăng nguồn tín dụng cho doanh nghiệp.

Do vậy với việc để lãi suất chiết khấu thấp, NHNN có thể đã tạo sự ưu ái đặc biệt đối với nguồn vốn cho các dự án đầu tư công của chính phủ, lấn át đầu tư của doanh nghiệp.

Khi đã có sự ưu ái này, các ngân hàng thương mại lớn còn có thể tận dụng TPCP cầm cố tại NHNN và dùng nguốn vốn này để cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại nhỏ, nắm giữ ít trái phiếu Chính phủ muốn cải thiện tình trạng thanh khoản phải thu hút tiền gửi dân cư bằng việc tăng lãi suất tiết kiệm, lãi suất cho vay vì thế cũng bị đẩy lên, mặt bằng lãi suất cao dần một phần không nhỏ do sự tồn tại của cơ chế “vốn đầu vào giá rẻ”. Vì thế, cung tiền tăng mà doanh nghiệp không tiếp cận được vốn ngân hàng.

Với lãi suất tái chiết khấu tăng lên mức 12% kết hợp với lãi suất thị trường mở 12%, kênh tái chiết khấu giá rẻ hay sự ưu ái nguồn vốn đầu vào đã chính thức được NHNN “đóng lại”. Cơ hội tìm kiếm và thu hút khách hàng để huy động vốn và cho vay sẽ được chia đều giữa các ngân hàng thương mại lớn và ngân hàng thương mại nhỏ, cơ hội để tiếp cận vốn ngân hàng của các doanh nghiệp cũng kỳ vọng sẽ được mở rộng hơn, theo đó lãi suất sẽ dần ổn định. Chất lượng của cung tiền bơm ra đối với nền kinh tế sẽ được cải thiện. Hiệu quả đầu tư toàn xã hội tăng và do vậy, lãi suất và lạm phát do vậy sẽ có cơ hội giảm trong tương lai gần.

Thứ hai, tăng các lãi suất chủ chốt sẽ phát tín hiệu về sự đồng thuận các chính sách kiềm chế lạm phát. Chúng tôi không bất ngờ về việc tăng lãi suất tái chiết khấu dù mức tăng 5% lần này là khá lớn. Trước đó, NHNN cũng đã có những động thái mang tính thắt chặt như Quyết định số 271/QĐ-NHNN ngày 17/02/2011, nâng lãi suất tái cấp vốn và 1 số lãi suất chủ chốt khác lên 11% cùng với việc quy định trần lãi suất huy động 14% theo chỉ thị 02/CT-NHNN.

Thực chất, động thái tăng lãi suất tái chiết khấu đã được BSC kỳ vọng từ trước nằm nhằm thể hiện tính thống nhất và đồng thuận cao, nằm trong gói giải pháp chung nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011).

Có lẽ, sự trễ trong việc tăng lãi suất tái chiết khấu so với các lãi suất còn lại trong thời gian qua có thể được hiểu là để Chính phủ có thời gian giải quyết những vấn đề còn tồn đọng với nguồn của đầu tư công là TPCP. Sau khi các vấn đề này được giải quyết, việc tăng lãi suất chiết khấu là một tất yếu trong chủ trương chống lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô.

Do vậy, nên hiểu đây là một động thái tích cực. Sự đồng thuận chính sách này sẽ có tác dụng tích cực trong việc lấy lại niềm tin của người dân về khả năng ổn định nền kinh tế vĩ mô trong nước trong thời gian tới, nhất là đối với quan sát của nhà đầu tư nước ngoài.

Tóm lại, BSC nhận định rằng,trong ngắn hạn, việc đón nhận thông tin tăng lãi suất chủ chốt có thể sẽ không mấy tích cực với thị trường bởi lo ngại lãi suất tăng, lượng tiền trong nền kinh tế theo cách hiểu chung sẽ bị hạn chế. Tuy nhiên, trong trung và dài hạn hạn, đây là tin tích cực, và góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến đầu tư công gây ảnh hưởng đến lãi suất và lạm phát.

Với quyết định này, cùng với hàng loạt các biện pháp nhất quán trong việc điều hành hướng tới sự ổn định vĩ mô, BSC hy vọng lãi suất sẽ giảm khi dấu hiệu lạm phát cho thấy giảm, có thể vào giai đoạn tháng 5, tháng 6 năm 2011, và dòng vốn sẽ vận động một cách thông suốt hơn trong nền kinh tế. thị trường chứng khoán có thể nhận được sự tích cực khi các dấu hiệu này được thể hiện.

Cảnh báo nợ doanh nghiệp nhà nước

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường - chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi. Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động... quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

Nhận định thị trường tuần 1 tháng 3

Các thông tin cơ bản trong tuần:

Tâm điểm chính sách tiền tệ thắt chặt, chứng khoán sẽ được ưu tiền khi điều tiết tiền tệ

Phiên họp của chính phủ ngày 24 tháng 2 tuyên bố thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng. Giảm tốc độ cho vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất nhất là chứng khoán và bất động sản. Theo số liệu NHNN công bố sẽ giảm dư nợ cho vay phi sản xuất từ 19% xuống còn 16%. Đáng lưu ý là có khá nhiều ngân hàng (24/48 tổ chức) cho vay phi sản xuất trên 25% và với yêu cầu được giảm về 16% thì kênh chứng khoán sẽ được ưu tiên xử lý trước BĐS

Lãi suất ngân hàng biến động cao với mức lãi suất thỏa thuận lên tới 19-20%. Ngày 3/3, NHNN đã ban hành thông tư quy định mức lãi suất trần 14%

Thị trường ngoại hối và vàng giảm nhẹ sau hành động kiên quyết của chính phủ

Ngày 25/2, Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản số 1535/NHNN-QLNH yêu cầu các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối báo cáo số dư tiền gửi ngoại tệ của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.

Tiếp theo đó thủ tưởng yêu cầu các TCT và tập đoàn phải bán USD cho NHNN

Biến số có khả năng ảnh hưởng CPI

Nhiều siêu thị đã điều chỉnh giá 5-15% cho nhóm ngành thực phẩm

Giá gas tăng 9.000 từ 1/3

Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán tiếp tục đà giảm khi tiếp tục đón nhận những thông điệp “kiên quyết” của CP về điều hành chính sách tiền tệ. Khối lượng giao dịch duy trì ở mức thấp và dòng tiền vẫn được rút ra khỏi thị trường nên mặc dù đã giảm mạnh quá đà nhiều phiên nhưng không có dấu hiệu phục hồi. Giữa tuần, hiện tượng KLS tuyên bố chuyển đổi mô hình hoạt động đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý nhà đầu tư dẫn tới hai phiên thị trường giao dịch hoảng loạn. Điều này đã kéo thị trường đi xuống và hiện tượng force sell diễn ra nhiều ở vài công ty lớn. Dự báo hiện tượng KLS sẽ còn ảnh hưởng vài phiên trước khi ổn định trở lại. Ngoài ra, lãi suất huy động cao và thông điệp hy sinh chứng khoán cho thấy thị trường còn rất nhiều những khó khăn trước mắt.

Kỹ thuật

Vnindex đã phá ngưỡng support 462 và dãi BBs mở rộng cho thấy có khả năng TT còn xu thế giảm

MFI và RSI biểu thị xu thế bán quá đà

Chỉ báo tâm lý biểu thị tâm lý bi quan của nhà đầu tư đang ở mức thấp nhất báo hiệu thị trường đang tạo lập đáy

Khuyến Nghị

Tạm thời không hành động trong tuần nếu đã mua CP trong vài phiên vừa qua chờ đợt phục hồi sắp tới

Tích cực cơ cấu danh mục nếu có đợt phục hồi theo hướng gia tăng tỷ lệ tiền mặt

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Căng thẳng về lợi ích giữa Mỹ và Trung quốc

(DVT.vn) - Trung Quốc đã đầu tư trực tiếp hơn 9 tỷ USD vào Libya, và nhập khẩu khoảng 7,4 tấn dầu thô từ nước này trong năm 2010.

http://dvt.vn/2011030204376197p85c77/doanh-nghiep-trung-quoc-co-the-mat-hang-ty-usd-o-libya.htm

Đáng mỉa mai nhất ở chỗ Mỹ chính là tội đồ gây ra khủng hoảng Trung Đông, Bắc Phi nhưng cuối cùng Mỹ hưởng lợi lớn nhất.

http://cafef.vn/20110302024256537CA32/nuoc-my-co-loi-nhat-tu-khung-hoang-trung-dong-bac-phi.chn

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

Điều chỉnh giá trong siêu thị

Từ 1-3, nhiều mặt hàng trong các siêu thị tăng 5% đến 15%

Theo các siêu thị trên địa bàn TPHCM, từ hôm nay sẽ chính thức bán giá mới đối với nhiều mặt hàng thực phẩm công nghệ, may mặc, gia dụng... với mức điều chỉnh chung là tăng 5% - 15%.


Cụ thể, các siêu thị Citimart, Maximark, Co.opMart, BigC... điều chỉnh giá tăng 10% - 15% cho một số mặt hàng thuộc nhóm thực phẩm công nghệ (sữa, đồ hộp...), đồ dùng gia đình bằng nhựa, thủy tinh, điện gia dụng và tăng 5% - 15% đối với hàng may mặc.

Một số nhà cung cấp lớn như Kinh Đô, Bibica, Vinamilk, Unilever, P&G, Tường An... và một số nhà cung cấp bia, nước ngọt cũng đã đánh tiếng sẽ tăng giá 5% - 10% đối với một số mặt hàng nhưng chưa có bảng báo giá cụ thể.

* Tin từ các công ty kinh doanh gas trong nước cho biết từ 7 giờ 30 phút hôm nay, 1-3, giá gas bán lẻ tăng 9.000 - 10.000 đồng/bình 12 kg, đến tay người tiêu dùng 329.000 - 330.000 đồng/bình 12 kg, tùy đơn vị. Nguyên nhân giá gas bán lẻ trong nước tăng là do giá gas thế giới giao tháng 3-2011 tăng 25 USD/tấn, lên 840 USD/tấn; đồng thời giá xăng dầu trong nước tăng cao dẫn đến chi phí vận chuyển gas tăng.

Trước đó, ngày 12-2, các hãng gas cũng đã điều chỉnh giá bán lẻ tăng 17.000 đồng/bình 12 kg do tỉ giá tăng.

Thông điệp điều chỉnh chính sách tiền tệ

Các đơn vị thuộc NHNN: Nửa đầu năm 2011, tập trung thanh tra về cho vay lĩnh vực phi sản xuất. Sáu tháng cuối năm 2011, tập trung thanh tra chất lượng tín dụng.


Ngày 01/03/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về việc thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Theo đó, đối với các đơn vị tại trụ sở chính NHNN, theo chức năng và nhiệm vụ của mình, tham mưu cho Thống đốc NHNN thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm 2011 thông qua các biện pháp dưới đây.

Điều hành tỷ giá và quản lý thị trường ngoại hối

Thực hiện các biện pháp cần thiết để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý; bảo đảm thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối.

Thực hiện các giải pháp nhằm giảm tình trạng đô la hóa, chuyển dần quan hệ huy động - cho vay bằng ngoại tệ trong nước của tổ chức tín dụng sang quan hệ mua - bán ngoại tệ.

Tiếp tục thực hiện các biện pháp về quản lý sử dụng ngoại tệ, hạn chế cho vay bằng ngoại tệ, cho vay bằng đồng Việt Nam để mua ngoại tệ thanh toán nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc Danh mục các mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu, hàng tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu do Bộ Công thương ban hành.

Kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng

Theo dõi và dự báo sát tình hình biến động giá vàng quốc tế, cung - cầu trong nước, chọn một số doanh nghiệp làm đầu mối nhập khẩu vàng, điều tiết và ổn định giá vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do;

Phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra, xử lý các trường hợp đầu cơ, găm giữ, kinh doanh trái pháp luật vàng, ngoại tệ làm rối loạn thị trường; trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý và kinh doanh vàng.

Rà soát, ban hành cơ chế quản lý hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng từ nước ngoài; việc sử dụng thẻ thanh toán quốc tế ở nước ngoài đối với các chủ thẻ là người cư trú.

Kiểm soát chặt thị trường tiền tệ

Một là, điều hành chủ động, linh hoạt và hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết lượng tiền cung ứng, kết hợp chặt chẽ với thanh tra, giám sát việc thực hiện quy định của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng; sửa đổi cơ chế cho vay bằng ngoại tệ để giảm nhu cầu vay; áp dụng biện pháp giảm tốc độ và tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất, để kiểm soát quy mô và chất lượng tín dụng phù hợp với Nghị quyết số 11/NQ-CP và đảm bảo an toàn hệ thống.

Hai là, điều hành linh hoạt lãi suất tái cấp vốn, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất phù hợp với quy định của Luật NHNN năm 2010; kết hợp với các công cụ chính sách tiền tệ khác để kiểm soát lãi suất thị trường ở mức hợp lý, phù hợp mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Ba là, sử dụng một phần tiền cung ứng theo kế hoạch năm 2011 để tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng có đề án cho vay theo cơ chế tín dụng thông thường đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng; sửa đổi, bổ sung hình thức xử phạt vi phạm kinh doanh vàng, ngoại tệ phù hợp tình hình thị trường ngoại hối hiện nay; tăng cường thanh tra, giám sát việc cấp tín dụng và đảm bảo các tỷ lệ an toàn kinh doanh của các tổ chức tín dụng:

Ban hành theo thẩm quyền, trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2010, phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

Ban hành quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng; số dư nợ mua trái phiếu của doanh nghiệp được tính vào tỷ lệ tăng trưởng tín dụng và các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

Sáu tháng đầu năm 2011, tập trung thanh tra về cho vay lĩnh vực phi sản xuất; Sáu tháng cuối năm 2011, tập trung thanh tra chất lượng tín dụng và việc thực hiện các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

Thanh tra hoạt động của công ty mua - bán nợ trực thuộc tổ chức tín dụng; phối hợp với bộ, ngành liên quan thanh tra hoạt động của công ty chứng khoán trực thuộc tổ chức tín dụng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; công khai đưa lên trang tin điện tử của NHNN đối với những vi phạm phải xử lý của các tổ chức tín dụng.

Năm là, hoàn thiện cơ chế và nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương buổi chiều thứ 6 hàng tuần phải báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP và Chỉ thị 01 của các TCTD trên địa bàn cho Thống đốc NHNN và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.