Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Dữ liệu ROIC, lãi suất và câu chuyện đầu tư

Chỉ số lãi trên vốn đầu tư (ROIC) trên TTCKVN trong 4 năm qua chỉ ra rằng, các DNNY sẽ chỉ tạo ra giá trị cho cổ đông nếu mặt bằng lãi suất về dưới 14%. Và như vậy, suy rộng ra lãi suất cho vay các doanh nghiệp nên giảm về tối thiểu 14% để các doanh nghiệp có thể phát triển bền vững. Ở góc độ quan điểm đầu tư dài hạn, nếu tình hình không được cải thiện thì tốt hơn hết là đem tiền đi gửi ngân hàng với lãi suất thỏa thuận 17-18% với rủi ro thấp thay vì góp vốn cho các doanh nghiệp không có khả năng tạo ra ROIC cao hơn con số này.

Đã có nhiều bài báo và nhận định cho rằng lãi suất phải giảm tuy nhiên mức giảm là bao nhiêu thì doanh nghiệp sẽ “chịu đựng” được. Chúng tôi đã tiếp cận vấn đề này từ góc độ hiệu quả đầu tư dựa trên chỉ số ROIC trên phần mềm StoxPro mà quý khách hàng đang dùng. Trong bối cảnh lãi suất cho vay tín dụng đang ở mặt bằng cao xung quanh 20%. Dữ liệu cho thấy rằng DNNY sẽ không thể tạo ra giá trị cho cổ đông chúng ta nếu tiếp tục duy trì mức lãi vay này. Xem biểu đồ phía sau và file dữ liệu đính kèm.

Một phát hiện đáng chu ý nữa là các DNNY có ROIC cao và mô hình kinh doanh hấp dẫn, ví dụ như VNM có ROIC 49% trong năm 2010, thì vẫn luôn luôn là những cổ phiếu hấp dẫn. Dù cho trong bất kỳ hoản cảnh thị trường nào. Có thể cũng vì lý do này cùng với một mô hình kinh doanh an toàn và bền vững và kết quả lợi nhuận quý 1/2011 ấn tượng như VNM tiếp tục khẳng định “voi phi nước đại”. VNM đang được đăng ký mua gấp 6 lần số cổ phiếu được chào phát hành riêng lẻ bởi các tổ chức nước ngoài (theo VCSC) và giá dự mua dự kiến có thể lên đến 150 ngàn đồng/cp – cao hơn 50% giá giao dịch trên thị trường hiện tại.

Một số ghi nhận khác từ file dữ liệu:

· ROIC trung bình trong 4 năm qua của hơn 655 doanh nghiệp niêm yết vào khoảng 13.8%. Mức lãi suất mà doanh nghiệp sẽ chỉ chịu đựng được (về dài hạn) sẽ phải nằm dưới mức lợi nhuận trên vốn đầu tư của doanh nghiệp (ROIC), tức là nhỏ hơn 14%. Do đó theo chúng tôi, đây là một ngụ ý chính sách tốt. Tuy nhiên giảm mặt bằng lãi suất với mức CPI cao hiện nay là câu chuyện “con gà – quả trứng”.

· Có khoảng 30% các DNNY có ROIC bình quân 4 năm từ 2007-2010 cao hơn 18% trong năm 2010 và 30% có ROIC thấp hơn 10%.

· ROIC của ngành hóa chất là lớn nhất đạt 26,8% năm 2010 trong đó có DPM. Sau đó đến thực phẩm và đồ uống (20%) – trong đó có VNM.

· Top 5 cổ phiếu có ROIC cao nhất bao gồm: KTB (92%), NNC (84%), NTL(83%), NET (68%) và D11 (67%). Tuy nhiên các cổ phiếu này chưa được chú ý do mô hình kinh doanh không có tính bền vững cao hoặc quy mô vốn hóa doanh nghiệp quá nhỏ.

· Trong Top 20 cổ phiếu có mức vốn hóa lớn nhất thì có ROIC bình quân trên 17%. Các doanh nghiệp có ROIC cao, ví dụ như VNM (49%), DPM (29,6%) và FPT (26,7%) sẽ là các cổ phiếu tiếp tục được lựa chọn bởi các nhà đầu tư tổ chức lớn. Đây là một ngụ ý quan trọng cho các tổ chức có thể phân tích và tìm hiểu sâu hơn các cổ phiếu và doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động cao.

· Ngoài ra, theo dữ liệu của StoxPlus, tỷ lệ đòn bảy tài chính trên TTCKVN hiện tại vào khoảng 1 lần (Vốn vay/Vốn chủ sỡ hữu). Chủ yếu ngành BĐS và Xây dựng có tỷ lệ cao còn lại các ngành khác hầu như đều ở mức thấp hơn 1x. Do đó, dữ liệu cũng cho thấy mức lãi suất cao sẽ chủ yếu sẽ tác động đến các DN BĐS, đặc biệt là các đơn vị đã vay và đang thi công.

Cơ bản về chỉ số ROIC

Chỉ số thu nhập trên vốn đầu tư (ROIC hay Return on Invested Capital) được dùng để đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận từ một đồng vốn đầu tư (bất kể là vốn của cổ đông hay vốn vay) của một doanh nghiệp. ROIC được tính bằng cách lấy Lợi nhuận trước chi phí lãi vay và thuế (EBIT) chia cho vốn đầu tư (bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn).

Công thức tính: ROIC = EBIT/Tổng vốn đầu tư

Điểm hay của ROIC là không quan tâm đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Điều này cực kỳ hay khi mà các doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng đến hiệu quả từ một cơ cấu vốn tối ưu và thực tế thì chính sách tài chính tiền tệ đã làm thay đổi hành vi huy động vốn của các doanh nghiệp.

Nguồn: Stoxplus

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

Cùng suy nghĩ về khả năng lạm phát đình đốn (stagflation)

Default Inflation - những khái niệm cơ bản

I. Lạm phát là gì:

Lạm phát được định nghĩa như là sự gia tăng kéo dài về mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ, được đo lường bằng tỷ lệ tăng hàng năm.

Có vài biến thể của lạm phát:

* Giảm phát (deflation): mức giá chung thì giảm, ngược với lạm phát.

* Lạm phát phi mã (hyperinflation): lạm phát ở mức độ cao bất thường. Lạm phát vào những năm 1920 ở Đức là điển hình - 2500% trong vòng 1 tháng. Tra cứu thêm ở wikipedia thì mức chấp nhận được để phân lọai vào hyperinflation là ít nhất từ 20-30% một tháng.

* Lạm phát đình đốn (Stagflation): lạm phát đi chung với kinh tế trì trệ và thât nghiệp cao. Xảy ra ở các nước công nghiệp hóa vào những năm 1970, khi kinh tế trì trệ đi cùng lúc với OPEC tăng giá dầu hỏa.

Nguyên nhân của lạm phát: có 2 lý thuyết được chấp nhận rộng rãi:

* Lạm phát do cầu kéo (Demand - Pull Inflation): Cầu tăng nhanh hơn cung, giá sẽ tăng. Thường xảy ra với các nền kinh tế đang phát triển.

* Lạm phát do chi phí đẩy (Cost - Push Inflation): khi chi phí đầu vào tăng, các công ty buộc phải tăng giá bán ra để đảm bảo lợi nhuận biên.

Cái giá của lạm phát: lạm phát tác động đến các đối tượng khác nhau theo những cách khác nhau, và phụ thuộc vào liệu lạm phát có nằm trong tầm dự đóan hay không.

* Người đi vay sẽ hưởng lợi, và người cho vay sẽ chịu lỗ nếu không dự đóan được lạm phát

* Việc không chắc chắn về điều gì sẽ xảy ra trong tương lai do lạm phát sẽ khiến các công ty và người tiêu dùng giảm chi tiêu, sẽ ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra của nền kinh tế trong dài hạn.

* Những người có thu nhập cố định - ví dụ như hưởng lương hưu - sẽ giảm sức mua, dẫn đến giảm mức sống. Nhân viên văn phòng hưởng lương cố định, nếu không thương lượng mức tăng lương theo kịp lạm phát, cũng sẽ như vậy.

* Nền kinh tế sẽ phải chịu thêm "Menu cost", tức chi phí để in ấn lại giá mới, bao bì mới, ...

Cuối cùng, lạm phát là dấu hiệu của nền kinh tế đang phát triển.

II. Lạm phát được đo lường như thế nào?

Giá của "Rổ hàng hóa - market basket" bao gồm nhiều hàng hóa đại diện cho nền kinh tế được so sánh qua các kỳ thời gian khác nhau, tạo thành một chỉ số giá cả - là giá của rổ hàng hóa hiện nay so theo tỷ lệ phần trăm với giá cả của cùng rổ hàng hóa vào đầu năm.
Ở Bắc Mỹ, có 2 chỉ số chính để đo lường lạm phát:

* Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index - CPI): đo lường sự thay đổi về giá tiêu dùng và dịch vụ như khí đốt, thực phẩm, áo quần, xe hơi. CPI được đo lường dưới góc nhìn của người mua. Rổ hàng hóa để tính CPI rất đa dạng, lên đến 80,000 mục và được khảo sát hàng tháng.

* Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index - PPI): đo lường sự thay đổi về giá bán của các nhà sản xuất nội địa. PPI được đo lường dưới góc nhìn của người bán.

Về dài hạn, PPI & CPI đưa ra những tỷ lệ lạm phát tương tự nhau, nhưng trong ngắn hạn, PPI thường tăng trước CPI. Thường thì các nhà đầu tư theo dõi CPI hơn là PPI.

III. Lạm phát và lãi suất:

Mỗi khi bạn nghe đến lạm phát được cập nhật trên các bản tin, thường thì lãi suất sẽ được đề cập đến theo cùng hướng.

Ở USA, lãi suất được quyết định bởi Cục Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve). FED thường gặp một năm 8 lần để đặt ra các mục tiêu ngắn hạn cho lãi suất. Trong những cuộc gặp này, CPI & PPI là những nhân tố quan trọng đối với quyết định của FED.

Lãi suất tác động trực tiếp đến thị trường tín dụng (vay) vì lãi suất cao tức chi phí vay nợ sẽ cao hơn. Bằng cách thay đổi lãi suất, FED cố gắng đạt được tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, giá cả hàng hóa ổn định và mức độ tăng trưởng tốt. Một khi cắt giảm lãi suất, chi tiêu xã hội sẽ gia tăng, sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế.

Ngược với những nhầm hiểu thông thường, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể đem đến những bất lợi. Một mặt, nền kinh tế tăng trưởng quá nhanh có thể sẽ phải chịu lạm phát phi mã, gây nên những vấn đề như đã đề cập ở phần trên. Mặt khác, nền kinh tế không lạm phát có thể đã bị trì trệ. Một nền kinh tế tăng trưởng ở mức độ phù hợp đi theo nó là lạm phát vừa phải sẽ là hợp lý nhất. Và đây là nhiệm vụ của FED. Việc siết chặc - tăng lãi suất - nhằm ngăn chặn lạm phát trong tương lai, và ngược lại giảm lãi suất nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế.

Nên nhớ rằng mặc dù lạm phát là một yếu tố chính, nó không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến quyết định của FED. Ví dụ, FED có thể sẽ giảm lãi suất khi khủng hoảng tài chính nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường tài chính USA.

IV. Lạm phát và đầu tư:

Tác động của lạm phát vào danh mục đầu tư phụ thuộc vào loại chứng khoán đang nắm giữ. Nếu chỉ đầu tư vào stocks thì không cần lo lắng nhiều vì trong dài hạn, doanh thu và lợi nhuận của công ty thường theo tăng cùng nhịp với lạm phát. Tuy nhiên, gặp lạm phát đình đốn (stagflation) thì phải xem lại, vì nền kinh tế suy yếu cộng với lạm phát thì rất xấu cho stocks.

Vấn đề chính của stock & lạm phát là lợi nhuận của công ty có khuynh hướng được thổi phồng. Khi lạm phát cao, công ty có vẻ như đang tăng trưởng tốt, trong khi thực sự lạm phát là nguyên nhân chính. Khi phân tích các báo cáo tài chính, cần phải nhớ rằng lạm phát có thể tác động xấu đến thu nhập phụ thuộc vào cách công ty sử dụng để định giá hàng tồn kho (inventory). tức là quan tâm đến khả năng tái sản xuất ra sản phẩm khi xảy ra siêu lạm phát hơn là số dư bằng tiền trên báo cáo.

Cần phân biệt giữa lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) và lãi suất thực (real interest rate). Lãi suất danh nghĩa là tỷ lệ tăng của đồng tiền, còn lãi suất thực là sự gia tăng của sức mua. Real interest rate = Nominal interest rate - inflation.

Trái phiếu trượt theo lạm phát (Inflation-indexed Bonds): có những loại chứng khoán có thể mang cho nhà đầu tư lợi nhuận mà không bị lạm phát ăn hết. Treasury Inflation Protected Securities - TIPS - là một dạng đặc biệt của trái phiếu kho bạc, với vốn và lãi được buộc chặc vào CPI, sẽ gia tăng để đền bù cho lạm phát nếu xảy ra. Bù lại, tất nhiên là mức lãi sẽ rất thấp.

Nguồn : Sưu tầm

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Nhận định thị trường tuần 4 tháng 4

Thông tin cơ bản

Tin đồn CPI trên 3% tuần trước có vẻ chắc chắn thành sự thật khi lần lượt các chỉ số CPI các địa phương được công bố ở mức rất cao. CPI tháng 4 của long an được công bố 5.46% vào ngày 19, theo sau đó 1 ngày CPI của hai thành phố lớn là Hồ Chí Minh và Hà nội đều lần lượt được công ở mức 3.16% và 3.28%. Rõ ràng là những sự điều chỉnh của giá xăng dầu và vài mặt hàng vào tháng trước ngay lập tức kéo giá của các mặt hàng trong rổ CPI lên rất cao. Tháng này CPI được công bố trễ hơn thường lệ và có vẻ chính phủ lựa chọn ngày cuối tuần công bố số liệu để tránh cơn shock cho thị trường chứng khoán. Như nhận định lần trước rằng việc tăng giá của các mặt hàng xăng dầu và than..có thể tác động vào 2-3 tháng lạm phát và HSC cũng cho rằng phải đến tháng 7 cơn bão giá lần này mới chấm dứt.

Thị trường tiền tệ vẫn căng thẳng như mọi khi và lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức: ON 19-20; 1w-1m 22. Tương tự thế, lãi suất huy động các ngân hàng vẫn chào ở mức trên 22% và chưa có dấu hiệu nào cho thấy lãi suất có thể hạ được trong tương lại gần khi mà SBV chưa có động thái hỗ trợ thị trường tài chính. Ls vay tiêu dùng cho các hợp đồng cũ đã được ACB điều chỉnh từ mức 22%-26% cho thấy gánh năng nợ nần sẽ ngày càng gia tăng lên sức khỏe tài chính của các doanh nghiệp và các cá nhân trong thời gian sắp tới

Lo ngại lạm phát leo thang trên toàn cầu, vàng đã có cuộc vượt đỉnh tầm lý 1500USD/Ounce đã kéo giá vàng trong nước tăng từ 36,9tr-37.1tr/lượng lên 37,5tr-37,59tr/lượng. Giá vàng trong nước không có nhiều biến động như trước kia do giá USD đã giảm và thông tin các NHTM sẽ dừng huy động và cho vay vàng có hiệu lực từ 1/5 nên biến động giá vàng không còn lớn, chênh lệch khoảng 300.000-400.000/lượng.

Kinh tế thế giới biến động theo ảnh hưởng của đồng bac xanh: đồng USD yếu và lo lắng về tình hình thời tiết hậu thuẫn giá hàng hoá tiếp tục tăng vào sáng nay, 22/4, trước ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và kỳ nghỉ lễ Phục sinh. Chỉ số giá 19 nguyên liệu Reuters-Jefferies CRB tăng 0,5% lên mức cao nhất trong vòng 10 ngày. Đồng, đậu tương, dầu mỏ và bông đều tăng giá nhờ hoạt động mua từ phía các nhà đầu tư, khi USD giảm giá mạnh. USD đã giảm ngày thứ ba liên tiếp và hạ xuống mức thấp nhất kể từ tháng 8-2008.Đồng đô la Mỹ không còn là nơi trú ẩn cho giới đầu tư, khi chính phủ Mỹ đang có những quyết định khó khăn để giải quyết thâm hụt ngân sách và vàng được hỗ trợ tăng mạnh từ lý do này. Bên cạnh đó USD cũng chịu áp lực giảm mạnh từ việc S&P xếp hạng tín dụng trong dài hạn ở mức tiêu cực, nếu chính phủ Mỹ không tìm ra cách để cắt giảm khoản nợ khổng lồ của mình.Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tuyên bố đã sẵn sang tăng lãi suất trong thời gian sớm nhất đã khiến đồng euro tăng mạnh hơn so đồng USD và so với các đồng tiền chính khác.

Đánh giá thông tin

“Chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm” và mọi thứ khó khăn vẫn còn ở trước mắt. Rất có thể chúng ta sẽ còn chứng kiến những sự tồi tệ hơn của vĩ mô trong nước khi mà những tồn tại của kinh tế ngày càng lòi ra nhiều lỗ thủng. Các vụ thua lỗ của các tập đoàn nhà nước được đưa ra ánh sáng với những con số khủng khiếp. Phải nói rằng,cần rất nhiều thời gian để hàn gắn vết thương này. Ngoài ra, những ảnh hưởng từ kinh tế thế giới cũng sẽ tác động vào kinh tế vĩ mô trong thời gian tới. Chúng ta hãy chờ xem

Thị trường chứng khoán

Thị trường tiếp tục dao động trong dải hẹp và với khối lượng dưới 500 tỷ đồng phiên/hose. Đang có động thái rút tiền từ các nhà đầu tư rút tiền trả nợ cho khoản vay với lãi suất được điều chỉnh lên cao khi mà BDS đã đóng băng. Thị trường có đã có xu hướng đi xuống nếu loại trừ ảnh hưởng của hai mã BVH và MSN đã giúp index duy trì ở mức trên 455 điểm. Nhà đầu tư sẽ khó quay lại thị trường trong thời gian tới nên thị trường sẽ vẫn duy trì giao dịch với khối lượng thấp.

Phân tích kỹ thuật

Hose dãi BBs đang hẹp chờ đợi tín hiệu giảm giá mạnh khi BVH và MSN không còn được nâng đỡ. Báo cáo Stoxx cho rằng ETF đã hết tiền nên khả năng kéo giá BVH và MSN trong thời gian dài rất khó xảy ra. Sàn HNX cho tín hiệu giảm giá rõ ràng hơn khi BBs đã mở rộng và chỉ số HNX đã về mức 83.92. Rất nhiều cơ sở để tin rằng HNX sẽ chạm mức đáy kỷ lục ở 77.5 điểm của năm 2008. Đây cũng là mức hỗ trợ khá mạnh của HNX.

Đề Xuất

Duy trì trang thái tiền mặt lớn và không vội giải ngân khi chưa có tín hiệu vĩ mô rõ ràng. Tâm lý sợ hãi giảm giá vẫn còn nên thị trường chưa thể xác lập đáy rõ ràng. Cần thêm thời gian cho một cơ hội mới

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

3 Giai đoạn của thị trường giảm giá

Thị trường giá xuống (bear market) khi mà các dự báo kinh tế ở dưới mức kỳ vọng. thị trương giá xuống có thể kéo dài vài ngày, vài tuần hoặc thậm chí vài tháng và chả có ai biết được khi nào nó kế thúc. Nhưng nếu bạn chú ý phân tích những biến động thị trường trong quá khứ thì bạn sẽ phát hiện ra thời điểm nó kết thúc. Đó là lý do tại sao tôi muốn đề cập tới 3 giai đoạn của thị trường giá xuống

Giai đoạn 1: tất cả đã kết thúc

giai đoạn này bắt đầu khi thị trường phản ánh những tin xấu mà trước đó nó là tin tốt, nghĩa là nhưng tin tốt không tốt như kỳ vọng. giai đoạn này xả ra khi mọi người nghĩ tin tốt sẽ không bao giờ trở lại hoặc là nhà đầu tư đầu hàng và tuyên bố tất cả đã chấm dứt

Giai đoạn 2: Khuyến cáo về bear market thành phổ biến

giai đoạn này các nhà bình luận thị trường đồng loạt hô hào rằng chúng ta đang ở trong bear market, những luận điều cho rằng sự tăng giá đã quá mạnh và đã kéo dài quá lâu sẽ gửi tới mọi người

sẽ chẳng còn ai quân tâm hoặc quan tâm rất ít tới những chỉ số cơ bản trong giai đoạn này. chỉ số như Dividend yiels, P/E, tốc độ tăng trưởng hoặc những dự báo sẽ không còn được quan tâm nhiều nữa.

Mọi người sẽ được cảnh báo và lời khuyên không mua CP quá nhiều trong giai đoạn này. Đây cũng là lúc chúng ta hay nghe "đầy là thị trường của dân đầu cơ" và sẽ có đầy các chiến lược hành xử trong điều kiện thị trường tăng, giảm hay đi ngang

Giai đoạn 3: Mọi thứ đã sáng sủa, hãy vào ngay đừng chậm trễ

Đầy là giai đoạn cuối, xảy ra khi nhiều người đã quên bear market. CP tăng giá nhưng chưa có những cú tăng giá giât mạnh. sẽ có nhưng sự hoảng loạn sợ trễ tàu đặc biệt là dòng vốn lớn với lý do: 1, trễ cơ hội mua giá thấp, 2, performance sẽ underperform , 3, khách hàng sẽ chuyển tiền đi chỗ khác.

Vì lý do sợ trễ tàu nên các quỹ sẽ mua rất mạnh để có thể cạnh tranh được các quỹ khác. Đây là giai đoạn gặt thành quả cho ai đã dám mua trong giai đoạn này sớm nhất

Vâng, khi dòng tiền lớn đã chảy vào để mua CP thì bạn hãy đứng xem cho tới giai đoạn của thị trường bear mart chuẩn bị bắt đầu nhé


Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Paul Krugman với "Sự trở lại của kinh tế học suy thoái"

Nhà dự báo khủng hoảng tài ba Paul Krugman đã nhận được giải thưởng Nobel kinh tế năm 2008. Tuy đến năm 2008 mới chính thức được Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao giải thưởng giá trị này nhưng trong vòng hơn 10 năm qua, những nghiên cứu của Krugman thực sự rất có giá trị trong lĩnh vực kinh tế học, đặc biệt là những nghiên cứu của ông về khủng hoảng và suy thoái kinh tế trên thế giới. Những nghiên cứu, những phát biểu của Krugman trước năm 2008 có những lúc bị “người ta” “lơ đãng” và “thờ ơ”. Nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính, rồi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra như một bằng chứng khách quan nhất khẳng định tính chính xác và đúng đắn về những tiên đoán của Krugman về vấn đề suy thoái kinh tế.
Là Giáo sư giảng dạy môn thương mại quốc tế và địa kinh tế tại Trường Đại học Princeton và chủ bút mục kinh tế cho tờ Times, trong những năm qua Paul Krugman đã viết rất nhiều sách và các bài báo, bài nhận định, phân tích, phê bình… về những bất ổn của nền kinh tế thế giới với những nguy cơ khủng hoảng và suy thoái tiềm ẩn ngay trong giai đoạn tăng trưởng ấn tượng của kinh tế toàn cầu. Với những sự xem xét, phân tích, đánh giá và so sánh về một cách toàn diện giữa những biến động kinh tế tại các nước và khu vực như Châu Mỹ Latinh, Nhật Bản, Mexico…trong vòng 20 năm qua với cuộc đại suy thoái 1930, Paul Krugman như tiên liệu được về một sự lặp lại của lịch sử suy thoái kinh tế. Và “Sự trở lại của kinh tế học suy thoái’ của Paul Krugman thực sự cần được xem xét nghiêm túc để giúp thế giới vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay.

“Kinh tế học suy thoái” – một khái niệm mới trong kinh tế học?
Kinh tế học suy thoái là một khía cạnh của kinh tế học, là khoa học nghiên cứu về nguyên nhân gây ra thất bại của nền kinh tế và cách thức giải quyết chúng. Biểu hiện của sự thất bại của nền kinh tế ở đây chính là những đợt suy thoái triền miên của nền kinh tế, gây ra những ảnh hưởng mang tính hệ lụy lâu dài đối với sự phát triển mang tính bền vững của một quốc gia, khu vực và cả thế giới.
Vì trước suy thoái kinh tế năm 2008 đã có rất nhiều đợt suy thoái kinh tế (điển hình là cuộc Đại suy thoái 1930) nên thực sự khái niệm “kinh tế học suy thoái” cũng không thực sự quá mới mẻ đối với những ai quan tâm tới kiến thức và sự hiểu biết về suy thoái, về khủng hoảng (như Paul Krugman chẳng hạn). Nó chỉ mới với những ai “thờ ơ” với nguy cơ suy thoái hay khủng hoảng kinh tế hoặc đối với những người đã “ngủ quên” trên những sự tăng trưởng ấn tượng của nền kinh tế toàn cầu trong thời gian vừa qua (khoảng gần 1 thập kỷ trở lại đây, trước cuộc suy thoái kinh tế năm 2008).
Kinh tế học suy thoái chỉ ra rằng sự thất bại về mặt cầu của nền kinh tế là nguyên nhân chính gây ra sự “tắc nghẽn” trong “chu trình vận hành” của một nền kinh tế. “Trở lực” chính là sự thiếu hụt tín dụng của người dân cho tiêu dùng. Việc không có đủ chi tiêu cá nhân sẽ gây ra việc không thể tận dụng hết công suất sản xuất của một nền kinh tế. Năng lực sản xuất lớn, khối lượng sản phẩm được tạo ra nhiều nhưng không được sử dụng sẽ tạo nên cuộc khủng hoảng “thừa”. Như vậy, chính mặt cầu hạn chế đã làm ảnh hưởng tới cung.
Việc phân tích nguyên nhân của suy thoái kinh tế cũng là một cách để phê phán trường phái kinh tế học trọng cung (supply-side economics). Và cuộc suy thoái kinh tế xảy ra lại cung cấp thêm những bằng chứng bác bỏ trường phái này. Từ đó, tạo nên một sự dịch chuyển trong cán cân tranh luận lý thuyết kinh tế học trọng cung và trọng cầu.
Về nguyên tắc, trong dài hạn những sự sụt giảm của tổng cầu sẽ tự điều chỉnh khi có sự thay đổi nhanh chóng của tiền lương và giá cả. Tuy nhiên trên thực tế thì giá cả không giảm nhanh được, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái (nhìn nhận ngắn hạn hơn là dài hạn để giải quyết vấn đề trong suy thoái).

Phương án giải quyết và những vấn đề?

Sẽ có phương án tối ưu chăng?
Như phân tích trên, nguyên nhân dẫn đến suy thoái là do việc thiếu hụt chi tiêu cho tiêu dùng. Do đó để giải quyết vấn đề suy thoái kinh tế nên bắt đầu từ việc cung cấp tín dụng cho tiêu dùng với mục tiêu kích cầu để tận dụng tối đa công suất sản xuất của nền kinh tế. Việc “khơi thông” dòng tín dụng và đẩy mạnh chi tiêu là rất quan trọng để thoát khỏi khủng hoảng.
Trong bối cảnh khủng hoảng, sự thắt chặt tín dụng sẽ “thật điên rồ”! Tuy nhiên phải công nhận rằng không dễ dàng để thực hiện nó cho dù đã biết tính hữu dụng của giải pháp. Sở dĩ như vậy là bởi chúng ta còn phải đối mặt với sự trở lại của làn sóng lạm phát mà trước đó không lâu chúng ta phải “khốn đốn” vì nó. Lại một lần nữa, chúng ta phải đối diện với sự đánh đổi (trade-offs) khi ra quyết định! Và có chăng tâm lý và sự kỳ vọng vào chính sách cũng ảnh hưởng tới quyết định của những nhà hoạch định chính sách trong bối cảnh “nguy khốn”? Bên cạnh đó, “niềm tin trong khủng hoảng” cũng là một yếu tố có thể gây ra việc thắt chặt tín dụng. Người dân và các tổ chức tín dụng không muốn giao dịch trong bối cảnh như vậy khi mà lòng tin của họ về sự an toàn và đảm bảo cho tài sản của họ đã bị suy giảm trầm trọng. Niềm tin hay lòng tin của tập hợp nhiều cá nhân trong xã hội có thể được gọi chung dưới thuật ngữ “vốn xã hội”. Hay nói cách khác suy thoái đã làm cho “vốn xã hội” suy giảm; đến lượt nó, sự suy giảm của “vốn xã hội” sẽ làm cho xác suất xảy ra giao dịch tín dụng giảm (chi phí giao dịch sẽ tăng khi “vốn xã hội” giảm đi); giao dịch tín dụng khó được thực hiện thì nguy cơ về sự “tắc nghẽn” dòng tín dụng là rất lớn. Như vậy, suy thoái kinh tế và nguy cơ khủng hoảng đã xóa đi nguồn vốn tín dụng.

Vậy ai sẽ có vai trò quan trọng trong bối cảnh như thế này?
Sự phản ứng và hành động “khôn ngoan” và kịp thời của chính phủ các nước sẽ là cần thiết. Chính phủ sẽ phải hành động để thực hiện sứ mệnh của một nhà sửa chữa những thất bại của thị trường mà chính nó gây ra cuộc suy thoái hiện tại. Bổ sung thêm vốn và cung cấp tín dụng để đảm bảo cho việc kích cầu sẽ là một “phản ứng chuẩn mực” trong bối cảnh này của chính phủ các nước. Điều quan trọng mà chúng ta quan tâm đó là năng lực để có thể đưa ra được những gói kích cầu phù hợp của mỗi chính phủ. Liệu chính phủ có đủ lượng vốn dự trữ không? Dung lượng của gói kích cầu bao nhiêu là vừa đủ để có thể vừa kích cầu thành công mà không gây áp lực lạm phát trở lại? Đối tượng mục tiê nào sẽ được ưu tiên kích cầu cho từng nền kinh tế gắn với những điều kiện và đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể? Và nhiều vấn đề khác nữa… Tất cả những điều đó sẽ quyết định hiệu quả của chính sách kích cầu!
Ngoài ra, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, khi mà mỗi một nền kinh tế là một mặt xích trong hệ thống toàn cầu và sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng là rất lớn thì việc các nền kinh tế liên kết với nhau trong việc đưa ra các chính sách để đối phó với suy thoái là cần thiết.
Song song với việc kích cầu thì chúng ta cũng nên “lãng quên” phía cung của nền kinh tế để làm sao cho việc chi tiêu cho tiêu dùng cũng tương xứng với khả năng sản xuất để tạo nên những sản phẩm thực cho nền kinh tế. Do đó, việc kiểm soát dòng tín dụng để nó không tạo nên “bong bong thị trường” cũng rất là quan trọng đối với chính phủ các nước. Có ý kiến cho rằng nên thực hiện chi tiêu ở khu vực công vì như vậy vì việc chi tiêu này một mặt sẽ giúp kích cầu các sản phẩm, hàng hóa liên quan; mặt khác sẽ giúp tạo ra những tài sản tương ứng (như cơ sở hạ tầng).

Hệ thống tài chính cần phải được đổi mới để lành mạnh và vững chắc hơn?
Ngày nay, hệ thống tài chính có một vai trò tối quan trọng trong “sự vận hành thông suốt” của một nền kinh tế. Nó được ví như là “huyết mạch” của nền kinh tế. Hệ thống tài chính cùng với hệ thống ngân hàng như là một “sợi dây kiên kết” quan trong giữa khu vực tài chính và khu vực phi tài chính trong một nền kinh tế. Bởi lẽ đó, nếu như có một sự “trục trặc” nào đó ở hệ thống này thì những điều “tồi tệ” không chỉ liên tiếp xảy ra trong khu vực tài chính (sự phá sản của các ngân hàng, các tổ chức và định chế tài chính) mà còn sẽ xảy ra đối với cả nền kinh tế (sự sụp đổ của nền kinh tế), khu vực kinh tế, thậm chí là đối với nền kinh tế toàn cầu khi mà mức độ hội nhập và liên kết giữa các hệ thống tài chính các nước ngày càng tăng. Do đó, việc làm cho hệ thống tài chính càng trở nên minh bạch, lành mạnh, hoạt động an toàn và có hiệu quả là vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Để làm được điều này thì cách thức quản lý của chính phủ đối với hoạt động của các ngân hàng, các tổ chức tài chính và sự luân chuyển dòng vốn giữa chúng là rất quan trọng trong mỗi nền kinh tế. Sự quản lý này cần phải tương ứng với quy mô của hệ thống tài chính, với tốc độ tăng trưởng của hệ thống ngân hàng để có thể kiểm soát kịp thời những vụ “hoảng loạn” ngân hàng do động cơ về mặt lợi ích, lợi nhuận gây ra. Những quy định mang tính bắt buộc được “luật hóa” mà chính phủ đưa ra đối với tất cả chủ thể tham gia trên thị trường tài chính – ngân hàng là rất cần thiết nhằm duy trì một trật tự an toàn cho hệ thống tài chính và cả nền kinh tế. Cần chú ý rằng, những quy định này như những “luật chơi” được thiết kế để tạo ra một thể chế phù hợp mà trên đó hệ thống tài chính được vận hành an toàn, thông suốt và hiệu quả chứ không ngăn cản sự phát triển của hệ thống tài chính hay “bóp méo” thị trường.
Bên cạnh chính phủ các nền kinh tế đưa ra những chính sách quản lý hệ thống tài chính phù hợp cho riêng mình thì việc quản lý toàn cầu hóa hệ thống tài chính cũng là rất quan trọng.

Trong tương lai sẽ còn có những cuộc suy thoái kinh tế mới?
Hiện nay chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế ở các khu vực và toàn cầu đang cố gắng làm tất cả những gì có thể để kinh tế thế giới thoát khỏi khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng 2008 này có trầm trọng như thế nào đi nữa rồi cũng sẽ qua đi. Nhưng quan trọng là sau cuộc khủng hoảng này, người ta (chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế, các chuyên gia kinh tế, các nhà kinh tế học…) sẽ rút ra được những bài học gì cho tương lai về sự hiểu biết và thái độ đối với “kinh tế học suy thoái”.
Thật khó có thể nói trước được là sau sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 sẽ còn có những cuộc suy thoái kinh tế mới hay không? Sự cẩn trọng có cơ sở sẽ luôn cần thiết cho sự an toàn của các nền kinh tế. Điều đó rất có thể lại phụ thuộc vào tư tưởng đương đại về nó. Vì vậy, việc thay đổi tư duy kinh tế, cách nhìn nhận vấn đề kinh tế phù hợp cũng là một điều hữu ích giúp chúng ta phát triển nền kinh tế bền vững.
Xin kết thúc bài viết này với một câu nói rất nổi tiếng của Keynes: “Sớm hay muộn, chính tư tưởng chứ không phải nhóm lợi ích cục bộ sẽ quyết định sự thành bại”.

Tài liệu tham khảo:
N. Gregore Mankiw (1994). Macroeconomics – Second edition. Dịch bởi Nguyễn Văn Ngọc và các tác giả (1996). Hà Nội: Nhà xuất bản Thống Kê.
Paul Krugman (2009). The return of Depression Economics and the crisis of 2008. Dịch bởi Nguyễn Dương Hiếu, Nguyễn Trường Phú, Đặng Nguyễn Hiếu Trung, Nguyễn Ngọc Toàn. TP.HCM: Nhà xuất bản Trẻ.

source: http://www.vneconomist.net/newsdetail.php?f=24&t=265

KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2011 VÀ GIAI ĐOẠN 2012-2016



Bức tranh kinh tế thế giới năm 2011 có nhiều điểm sáng hơn tối. Sự hồi phục vững của kinh tế Mỹ và tăng trưởng ổn định của kinh tế Châu Á (ngoài Nhật) là hai đầu tầu kéo kinh tế thế giới khỏi ảnh hưởng tiêu cực bởi suy giảm của Nhật và của Châu Âu trong năm 2011. Một chu kỳ tăng trưởng kinh tế đủ dài có thể bắt đầu và kéo dài hơn 3 năm. Tuy nhiên rủi ro vẫn luôn hiển hiện.

Có thể được coi là nền kinh tế nhỏ và mở với kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ thoát ra sau ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và có thể chậm hơn các nước khác từ 1 tới 2 năm trước khi có sự ổn định vĩ mô và tăng trưởng vững. Giả sử rằng, các chính sách ổn định tiền tệ và vĩ mô có kết quả (và hầu như chắc chắn là như vậy nếu Việt Nam chấp nhận một giai đoạn khó khăn để khôi phục lại niềm tin của thị trường) thì Việt Nam có thể có được một quãng đường tăng trưởng ổn định từ năm 2012.

TTCK nửa đầu năm 2011 sẽ gặp khó khăn do các chính sách bình ổn vĩ mô. Tuy nhiên kinh tế thế giới sáng sủa hơn mang lại niềm tin cho thị trường khi Việt Nam bắt đầu hòa nhịp cùng sự phục hồi của nền kinh tế thế giới vào năm 2012.

..................................................................................................................................................

1. KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2011

1.1. Một số rủi ro tiềm ẩn

Kinh tế Việt Nam trong năm 2011 và giai đoạn sau đó có bốn rủi ro chính như sau:

Thứ nhất, giá dầu ở mức cao và có xu hướng tăng lên. Mọi chuyện rất rõ ràng vì giá dầu có tác động lớn tới sự ổn định mức giá của Việt Nam. Nếu như cuộc khủng hoảng tại Châu Phi không được giải quyết nhanh chóng thì giá dầu sẽ tiếp tục ở mức cao như hiện nay. Lịch sử cho thấy giá dầu sau khủng hoảng thường tăng lên đều theo thời gian: tăng đều từ năm 2001 tới 2008 và giảm trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và sau khi kinh tế Mỹ và một số nước có dấu hiệu phục hồi rõ nét sau khủng hoảng cộng với nội chiến Châu Phi, giá dầu tiếp tục tăng trở lại

Thứ hai, lạm phát tăng cao tại nhiều quốc gia do chính sách nới lỏng định lượng tạo lợi thế cho xuất khẩu và cân đối lại cấu trúc cầu hàng quốc tế. Việc này dẫn tới những xung đột về chính sách tiền tệ giữa các quốc gia và kết quả cuối cùng là giá cả các hàng hóa nói chung có xu hướng tăng lên, kéo theo nhập khẩu lạm phát vào Việt Nam do chi phí nguyên liệu nhập khẩu tăng.

Thứ ba, khủng hoảng nợ công tại Châu Âu chưa kết thúc và thâm hụt ngân sách lớn tại nhiều quốc gia có thể làm giảm dư địa cho thực thi chính sách tài khóa và làm chậm lại quá trình phục hồi, đẩy áp lực về lãi suất tăng trong trung hạn. Những yếu tố này có thể giảm cầu nhập khẩu hàng Việt Nam. Mặc dù vậy, rủi ro này cần thời gian đủ dài kiểm chứng và rất ít khả năng sẽ xảy ra trong năm 2011, mặc dù các rủi ro trung và dài hạn là khá rõ ràng[1].

Thứ tư, khủng hoảng thiên tai tại Nhật có thể ảnh hưởng đến một số ngành công nghiệp công nghệ cao và nguyên liệu sản xuất hàng công nghệ trên thế giới, đẩy giá hàng hóa công nghệ tăng và giảm tăng trưởng ở một số ngành, làm ảnh hưởng tới tăng trưởng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vốn tài trợ của Nhật cho Việt Nam cũng có thể bị thu hẹp do Nhật phải dành vốn để khôi phục kinh tế nội địa.

1.2. Một số nhận định chung: ánh sáng cuối đường hầm

Bên cạnh những rủi ro tiềm ẩn ở trên cần theo dõi thêm, kinh tế thế giới hiện tại đã ổn định hơn so với giai đoạn 2008-2010 và có thể đang ở vùng đáy. Với một số nước, có thể nói đã bắt đầu phục hồi rõ ràng (chẳng hạn, Châu Đại dương bao gồm Úc và New Zealand, Châu Mỹ, Nga, Châu Á ngoài Nhật)[2]. Tuy nhiên sự phục hồi là không đồng đều và : nước nào/khu vực nào rơi vào khủng hoảng trước sẽ phục hồi trước. Dưới đây là nhận định về một số quốc gia có ảnh hưởng nhiều nhất tới Việt Nam, bao gồm: Mỹ, EU, Nhật, và Trung Quốc.

1.2.1. Mỹ

Những dữ liệu mới nhất cho thấy sự phục hồi kinh tế của Mỹ là khá chắc chắn và phụ thuộc vào tiêu dùng/sản xuất nội địa hơn là các đầu vào nhập khẩu. Tỷ lệ thất nghiệp giảm (hiện còn 9%), dự trữ hàng hóa tăng (thể hiện trong cấu phần đầu tư của GDP) và lạm phát vẫn ở mức thấp (<2%) và trong tầm kiểm soát. Chỉ số niềm tin tăng và chỉ số “lo ngại – fear” giảm[3].

Tuy nhiên, sự hồi phục của Mỹ vẫn phải đối mặt với những rủi ro nhất định: Khủng hoảng nợ Châu Âu sẽ không được giải quyết triệt để và lan sang các nước lớn hơn; Khủng hoảng thiên tại tại Nhật lan rộng; và Nợ công của Mỹ ngày càng tăng lên kéo theo sự quan ngại về áp lực lãi suất trung hạn.

Dựa trên đánh giá của các chuyên gia kinh tế với dữ liệu về lạm phát và việc làm, những động thái của Fed trong các phát biểu gần đây có thể thấy: Fed vẫn sẽ duy trì lãi suất thấp (cho dù có thể tăng nhẹ trong thời gian tới so với mức thấp kỷ lục hiện tại). Và nếu lạm phát vẫn ổn định, Fed sẽ duy trì mức lãi suất hiện tại để đảm bảo rằng tăng trưởng hồi phục vững chắc trong năm 2012. Một số mô hình dự báo cho rằng, lãi suất Fed funds chỉ có thể tăng đáng kể vào năm 2013 do sức cầu lúc đó mới làm gia tăng quan ngại về lạm phát và phù hợp với chu kỳ chính trị của Mỹ.

1.2.2. Châu Âu

Hiện tại kinh tế khu vực đồng tiền chung Châu Âu được dự đoán đi ngang trong năm 2011 và chưa có dấu hiệu cho thấy có sự phục hồi chắc chắn. Vì có sự tập trung vào chính sách tiền tệ (qua ECB) kiềm chế lạm phát và chính sách tài chính phụ thuộc vào từng quốc gia (có tuân thủ một số quy định tỷ lệ thâm hụt ngân sách - thường bị các nước vi phạm) đã không có được sự phối hợp tốt giữa chính sách tiền tệ và tài chính. Vì vậy, rủi ro lạm phát ở Châu Âu được cho là rủi ro ở mức độ lớn hơn so với Mỹ khi ECB có thể đẩy lãi suất lên cao mà không có sự đảm bảo cân bằng chính sách tài chính giữa các nước trong khu vực dùng đồng tiền chung Châu Âu.

1.2.3. Nhật

Nhật đang hứng chịu những tác động nặng nề từ thiên tai. Bản thân nước Nhật trước khi hứng chịu thiên tại cũng đã rơi vào vòng luẩn quẩn của tăng trưởng, nghĩa là sức tăng trưởng của Nhật phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, trong khi đó các nước nhập khẩu hàng hóa của Nhật đang cố gắng cân bằng cấu trúc cung-cầu nội địa để giảm nhập khẩu hàng hóa trong thời gian gần đây. Hai nhân tố này dẫn tới việc kinh tế Nhật khó đảm bảo mức tăng trưởng tốt trong năm 2011. Rất khó để đoán định những tác động hậu thiên tai và rủi ro hạt nhân của Nhật lên nền kinh tế Nhật tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, việc khắc phục hậu thiên tai sẽ có thể làm gia tăng hàng nhập khẩu từ các thị trường quen thuộc như Việt Nam.

1.2.4. Trung Quốc

Nạn lạm phát và tăng trưởng quá nóng của Trung Quốc đã buộc Ngân hàng trung ương Trung Quốc phải tăng lãi suất cơ bản. Tương tự với trường hợp của Singapore và của Úc, khi mà tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính qua đi, sức tăng trưởng được đảm bảo và sức cầu cá nhân đẩy lạm phát tăng cao, việc kiềm chế lạm phát được ưu tiên hàng đầu. Có thể Trung Quốc đang đối mặt với một số rủi ro như phân tích của giới chuyên môn: bong bóng bất động sản, nợ khó đòi của hệ thống ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn, sức ép về nguyên vật liệu thô phục vụ tăng trưởng không được đáp ứng đầy đủ, lương công nhân có xu hướng tăng lên. Mặc dù Trung Quốc có được sự tin tưởng ổn định tăng trưởng trong năm 2011 do thể chế kinh tế đặc thù, chúng ta cũng nên để ý một số rủi ro với Trung Quốc có thể phát sinh bất cứ lúc nào.

2. XU HƯỚNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2012 - 2016

Thật khó đoán định kinh tế thế giới sẽ đi đến đâu trong một thời kỳ dài do hiện tại có nhiều yếu tố có thể gây bất ổn tới kinh tế thế giới. Theo tính chu kỳ kinh tế xét và chu kỳ chính trị, thông thường kinh tế thế giới sẽ có khoảng từ 5 tới 7 năm để lại có những bất ổn lớn xảy ra[4]. Như vậy, kinh tế thế giới có thể sẽ tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2012-2016 sau khi các nền kinh tế thế giới tìm được điểm cân bằng giao thoa với nhau và cùng thoát ra khủng hoảng.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nên cân nhắc ba rủi ro chính có thể xảy ra trong trung hạn. Thứ nhất, rủi ro về thâm hụt chi tiêu quá lớn của chính phủ tại hầu hết các nền kinh tế, đặc biệt là Châu Âu, Mỹ, và Nhật. Điều này có thể gây áp lực làm gia tăng lãi suất thị trường (huy động bằng trái phiếu để trả nợ) và hạn chế mức độ ảnh hướng trong chi tiêu của Chính Phủ trong việc thực thi chính sách tài khóa trung hạn.

Thứ hai, kinh tế Trung Quốc có thể có những thay đổi mạnh mẽ và có thể phát sinh các rủi ro trong nội tại nền kinh tế Trung Quốc do bong bóng tài sản có thể sẽ bộc lộ và vỡ, gây tác động tiêu cực tới các ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào trên thế giới và đồng thời tác động xấu tới chuỗi cung cấp các hàng hóa ở phân khúc có chất lượng thấp và trung bình.

Thứ ba, các vấn đề về giá dầu do bất ổn định chính trị tại Trung Đông có thể sẽ đẩy cao chi phí sản xuất tại các nước nhập khẩu dầu và ảnh hưởng tới sụt giảm cung hàng hóa toàn cầu. Mặc dù vậy, rủi ro này có vẻ không thực sự hiển hiện nếu không có sự đột biến về giá dầu (tức là, giá dầu tăng chỉ phản ánh sức tăng của lạm phát trung bình trên thế giới).

3. ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆT NAM

3.1. Xuất nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc vào cả xuất khẩu và nhập khẩu. Tuy nhiên việc hoạt động XNK có tác động cụ thể ra sao tới tăng trưởng kinh tế vẫn chưa có câu trả lời cụ thể do nhập siêu có thể gia tăng (hiệu ứng trực tiếp giảm tăng trưởng) nhưng lợi ích sản xuất trung dài hạn có thể là lớn (hiệu ứng vòng hai đảm bảo tăng trưởng trung hạn). Xét theo nhiều yếu tố, có vẻ hiệu ứng vòng 2 lớn hơn hiệu ứng vòng 1: lợi ích từ nhập khẩu thiết bị máy móc phục vụ mở rộng sản xuất trong trung hạn bù đắp cho các thâm hụt từ nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào và hàng hóa tiêu dùng hiện tại.

Việt Nam sau khi bị tác động khủng hoảng thông thường có thể mất từ 1 tới 2 năm để có lại sức tăng trưởng ổn định bên cạnh các chỉ tiêu vĩ mô khác được đảm bảo[5]. Mặc dù các nền kinh tế thế giới vẫn có sự bảo hộ hàng hóa trong nước nhất định để cân bằng lại cấu trúc cầu hàng hóa của thế giới, kinh tế thế giới hồi phục và nhu cầu hàng hóa sau thiên tai của Nhật có thể đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Vì vậy, nếu Việt Nam có sự ổn định vĩ mô ngay trong năm 2011, hoạt động XNK của Việt Nam có thể sẽ nhộn nhịp trong năm 2011 và trong trung hạn do kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng vững và mở rộng giai đoạn này.

3.2. Lạm phát

Có hai yếu tố trên thế giới tác động đến lạm phát tại Việt Nam. Thứ nhất là giá cả hàng hóa quốc tế gia tăng, bao gồm giá cả nguyên vật liệu và xăng dầu, sẽ gây tác động dương tới lạm phát ở Việt Nam và có thể có những tác động không mong muốn lên toàn bộ nền kinh tế. Như đã nói ở trên, giá dầu luôn có xu hướng gia tăng và không loại trừ khả năng sẽ ở mức cao trong trung hạn và nới lỏng tiền tệ thế giới đang đẩy giá nguyên vật liệu nhập khẩu vào Việt Nam tăng. Hai yếu tố này gây “nhập khẩu” lạm phát vào Việt Nam.

Thứ hai, lạm phát xuất phát từ mất giá của VND thông qua hiệu ứng giá hàng nhập khẩu tăng do tỷ giá tăng (Pass-though Real Exchange Rate Effect). Trên thực tế trong một thời gian dài, lạm phát cao cộng với thâm hụt cán cân thương mại chủ yếu bằng đồng USD là nguyên nhân chính dẫn tới việc đồng VND mất giá so với VND. Trong trung hạn, với việc lạm phát dự kiến năm 2011 khó có thể thấp hơn 10% trong khi nhiều khả năng nhập siêu tiếp tục xảy ra năm 2011. Tác động của tỷ giá lên lạm phát là khá hiện hữu.

Tuy nhiên, nếu lạm phát thế giới được kiểm soát tốt và nội chiến Châu Phi được giải quyết sớm, “nhập khẩu” lạm phát chỉ phản ánh mức lạm phát tương đối của thế giới so với Việt Nam. Và nếu như niềm tin của thị trường được khôi phục thông qua các chính sách vĩ mô của Chính phủ Việt Nam trong thời gian gần đây, đặc biệt là chính sách tỷ giá và kiềm chế lạm phát. Với hai điều kiện như vậy xảy ra, nhập khẩu lạm phát không phải là một yếu tố đáng lo ngại.

3.3. Dự trữ ngoại hối

Dự trữ ngoại hối là một vấn đề khó khăn và có tính đặc thù riêng đối với nền kinh tế Việt Nam. Có ba điểm chính chúng ta cần lưu ý. Thứ nhất, vàng ở Việt Nam có vai trò như tiền tệ trong lưu thông nhưng trên thực tế là một cấu phần của dự trữ ngoại hối và có khối lượng lớn. Xét trong bối cảnh giá vàng có thể ở mức cao trong thời gian tới, việc quản lý thị trường vàng tốt bên cạnh việc đảm bảo các nhu cầu chính đáng của người dân sẽ làm tăng dự trữ ngoại hối bằng vàng quy ngoại tệ.

Thứ hai, ảnh hưởng của nguồn vốn FDI, vốn gián tiếp vào Việt Nam cũng như giải ngân nguồn vốn ODA phụ thuộc vào tình hình kinh tế thế giới. Do Việt Nam đi sau trong giai đoạn đầu phục hồi kinh tế thế giới nên những nguồn vốn này sẽ chảy vào Việt Nam trong trung hạn hơn là thời điểm hiện tại. Tức là, nguồn vốn gián tiếp sẽ hạn chế trong năm 2011 và sẽ tăng dần trong năm 2012 và trong trung hạn. Bên cạnh đó, trong trung hạn nguồn vốn ODA có thể vẫn giữ được cam kết mặc dù ODA của Nhật có thể chững lại trong thời gian tới. Những nhân tố trên cho thấy trong trung hạn, khó có một kết luận về xu hướng tăng/giảm của vốn ODA, nhưng sẽ có sự gia tăng nguồn vốn FDI và FII.

Thứ ba, kiều hối cũng là một kênh quan trọng cho dự trữ ngoại hối. Kinh tế thế giới tăng trưởng tốt sẽ kéo theo kiều hối (từ Việt kiều và xuất khẩu lao động) tăng lên. Trên thực tế, các khoản tiền gửi này là lớn góp phần tăng dự trữ ngoại hối nhưng với điều kiện quản lý ngoại tệ và tỷ giá của Việt Nam phải đảm bảo rằng khoản tiền này thuộc về dự trữ ngoại hối hơn là sở hữu của cá nhân và nằm ngoài hệ thông ngân hàng.

Giá dầu thô 2001-2011



[1] Gần đây, các tổ chức xếp hạng quốc tế đã hạ bậc nợ dài hạn của Bồ Đào Nha hai bậc xuống mức A3. Tuy nhiên, có thể thấy Châu Âu đã chủ động đi trước thành lập các quỹ hỗ trợ khủng hoảng nợ công tại các quốc gia EU. Tất nhiên, khủng hoảng nợ công có tính chất kéo dài và thường tái lập lại chính các quốc gia vấp phải.

[2] Các đánh giá, nghiên cứu của một số thể chế tài chính lớn, các nước này chính thức vượt qua giai đoạn tiền phục hồi và hiện bước vào giai đoạn tăng trưởng ổn định, mở rộng sản xuất.

[3] Xem thêm các báo cáo đánh giá chung của NBER (National Bureau of Economic Research)

[4] Chẳng hạn năm 1997-1998 có khủng hoảng tài chính Châu Á; Năm 2001-2002 có khủng hoảng nhỏ tại Mỹ và Châu Mỹ La-tin; Năm 2007-2008 có khủng hoảng tài chính toàn cầu vay dưới chuẩn của Mỹ và một số nước.

[5] Chẳng hạn, phải tới năm 1999-2000, Việt Nam mới thoát hẳn khỏi sự tác động tài chính Châu Á. Tương tự như vậy, nếu Mỹ và một số nước thoát ra khỏi khủng hoảng vào nửa cuối năm 2009, thì Việt Nam sẽ có thể có thể thoát ra khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng nửa cuối năm 2011. Trên thực tế, hoạt động XNK của Việt Nam đã phục hồi tốt từ năm 2010.

Tác giả: Tống Minh Tuấn