Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011

Nhận định thị trường tuần 2 tháng 5

Thông tin cơ bản

Khi nào CPI mới có thể giảm? Đó chắc chằn là câu hỏi mà nhiều người đang mong chờ lời giải của chính phủ khi mà nhiều biện pháp đưa ra để kìm hãm lạm phát được triển khai trong thời gian qua nhưng chưa đạt hiệu quả. Rõ ràng là gia tốc của chi số CPI cần thời gian để giảm để đạt đỉnh sau đó mới hạ nhiệt từ từ. Cũng đã có tranh luận về việc lập đỉnh của lạm phát rằng tháng 4 đã là đỉnh của lạm phát theo cách tính so sánh theo tháng nhưng theo cách tính lũy kế theo năm thì rõ rằng là chỉ cấn CPI có mức tăng dương thì CPI chưa phải đạt đĩnh

Nhìn vào biểu đồ năm 2008 thì CPI theo tháng đạt đỉnh vào tháng năm nhưng tới tháng 8 năm 2008 thì CPI lũy kế theo năm mới đạt đỉnh chính thức. Nếu quay lại xem xét việc điều hành chính sách lãi suất thì tới tháng 11, tức sau 3 tháng CPI đạt đỉnh SBV mới điều chỉnh LSCB

Quay trở lại xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới CPI, đã có thông tin cho rằng nhóm ngành thực phẩm đang có dấu hiệu hạ nhiệt như thịt, cá và rau xanh..nhưng nếu xem xét về nguyên nhân của việc giảm giá nhóm này thì cho thấy rằng khả năng hạ nhiệt còn gặp nhiều thách thức khi bệnh dịch ở gia cầm đang bùng phát và chi phí tăng kéo theo hiện tượng treo tàu của ngư dân đánh bắt thủy sản. Thêm vào đó, dư địa của việc điều chỉnh giá xăng sẽ còn ảnh hưởng 1, 2 kỳ CPI nữa nên CPI chưa thể hạ nhiệt. Ngoài ra, nếu việc điều chỉnh xăng và điện sẽ được thực hiện thì rõ ràng là việc chờ đợi CPI hạ nhiệt sẽ kéo dài ra thêm.

Thị trường tiền tệ có vẻ hạ nhiệt theo thời điểm khi lãi suất interbank ngày 12/5 đã hạ về mức On 13.5-15, 1w 17-19, 2w 20-21.5, 1m 21 khi các ngân hàng thừa nguồn chào ra nhiều nên lãi suất hạ. Trên thị trường OMO, các ngân hàng thương mại chỉ bid 589 tỷ trên 5000 tỷ được chào ra cho vay. Có một điểm lạ là tăng trưởng huy động âm của hệ thống ngân hàng tính tới thời điểm 21/4 cho thấy khó khăn về viêc huy động, có vẻ nghịch lý với việc thừa nguồn tạm thời trong hệ thống ngân hàng. Có lẽ sẽ phải chờ tín hiệu nào đó để dòng tiền quay lại ngân hàng khi các kênh đầu tư khác không còn tiềm năng để có thể thực tạo áp lực kéo lãi suất trở về mặt bằng thấp. Tuy nhiên, cũng cần phải theo dõi thêm thanh khoản của các ngân hàng nhỏ có được cải thiện hay không để có thể tin vào một sự đảo chiều về lãi suất.

Giá vàng đã có sự sụt giảm ngày hôm nay về sát mức 1500 usd/ounce sau sự tăng giá mạnh của đồng bạc xanh. Nguyên nhân của việc tăng giá này bắt nguồn từ lo ngại tình hình công nợ châu âu chưa được giải quyết. Ngoài ra, lo ngại trung quốc sẽ siết tiền tệ từ số liệu lạm phát mới được công bố đã tăng 5.3% trong tháng 4 đã kéo giá vàng đi xuống. Nếu trung quốc thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong thời gian tới thì việc giảm giá vàng và hàng hóa ngày hôm nay mới chỉ là bắt đầu. Do đó, quỹ đàu tư vàng SPDR và Quỹ của Soros đã có những động thái chốt lời.

Cũng liên quan tình hình kiểm soát lạm phát tại Trung Quốc, giá hàng hóa thế giới biến động thất thường vào phiên đóng cửa 11/5 trên thị trường thế giới (rạng sáng 12/5 giờ Việt Nam), sau khi lạm phát được công bố cao hơn mục tiêu của chính phủ và nước này tỏ ý sẽ thắt chặt tín dụng hơn nữa để ngăn chặn nhu cầu đối với mọi hàng hóa, từ dầu thô tới đồng. Nhập khẩu dầu, đồng và quặng sắt giảm trong tháng 4 sau khi ngân hàng trung ương đẩy tăng tỷ lệ lãi suất 4 lần kể từ tháng 10 năm ngoái để ngăn chặn lạm phát và làm tăng trưởng kinh tế chậm lại. Dầu thô Mỹ giảm giá hơn 5%, xuống dưới 100 USD/thùng, sau khi các số liệu cho thấy dự trữ xăng và dầu thô tăng.

Đánh giá thông tin

Thông tin xấu từ thế giới và Việt nam vẫn còn tiếp tục lan tỏa. Với những biến động thất thường giá cả hàng hóa thế giới và thiên tại,dịch bệnh trong nước sẽ là thách thức rất lớn cho việc kiểm soát giá cả hàng hóa trong nước. Thêm vào đó, tín hiệu xấu từ thị trường tiền tệ rất có thể sẽ xảy ra khi bong bóng BĐS được dự báo sẽ nổ trong thời gian rất gần mà nó có thể tạo ra hệ lụy xấu cho hệ thông ngân hàng. Ngoài ra, áp lực kéo tỷ lệ cho vay phi sản xuất về mức 22% tổng dư nợ tới thời điểm 1/7 cũng sẽ gây áp lực không nhỏ cho các ngân hàng và vì thế mặt bằng lãi suất sẽ còn cao trong thời gian tới.

Thị trường chứng khoán

Thị trường trong tuần tăng điểm với sự nâng đỡ của các CP vốn hóa lớn nhưng tổng khối lượng giao dịch duy trì mức 500 tỷ đồng phiên/hose. Với lãi suất margin cao 25%-27% đang được áp dụng sẽ làm tăng gánh nặng nợ nần lên nhà đầu tư và vì thế sẽ phải vào thế đưa thêm tài sản đảm bảo cho các công ty chứng khoán. Nếu lãi suất còn duy trì cao thì nhiều khả năng sẽ có biến đông lớn trong thị trường khi ứng xử của nhà đầu tư với khoản nợ vay chứng khoán sẽ đi theo chiều hướng xấu. Vì thế, giao dịch sẽ nhỏ lại khi tài khoản của nhà đâu tư sẽ bị đóng băng và theo dõi nợ. Nhà đầu tư đan cầm tiền cũng sẽ khó quay lại thị trường trong thời gian tới nên thị trường sẽ vẫn duy trì giao dịch với khối lượng thấp.

Đề Xuất

Duy trì trang thái tiền mặt lớn và không vội giải ngân khi chưa có tín hiệu vĩ mô rõ ràng. Tâm lý sợ hãi giảm giá vẫn còn nên thị trường chưa thể xác lập đáy rõ ràng. Cần thêm thời gian cho một cơ hội mới

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Thời điểm giảm cho vay phi sản xuất về 22% đã đến gần, liệu có ảnh hưởng nào xảy ra trên thị trường tài chính!

Sau khi xem qua một số báo cáo tài chính của các banks lớn cho thấy thì tỷ lệ cho vay phi sản xuất khá cao và khó có khả năng giảm về mức 22% như văn bản số 2956/NHNN-CSTT của NHNN gửi cho các ngân hàng thương mại trước đó. Dự báo rằng khả năng các ngân hàng chạy đua kịp thời gian là rất khó và vì thế thị trường tài chính sẽ có nhiều biến động trong thời gian tới

Theo báo cáo hoạt động kinh doanh quý I/2011 của các tổ chức tín dụng, hàng chục ngân hàng đã “lỡ" để tỷ trọng cho vay ở lĩnh vực phi sản xuất khá cao, tới hơn 40%.

Hiện NHNN đã “treo” hạn từ nay tới 1/7 các NHTM phải hạ tỷ trọng xuống tối đa 22%.

Theo công bố báo cáo hoạt động kinh doanh quý I/2011 của các ngân hàng, dù đang là thời kỳ khó khăn của các NHNN khi phải thực hiện nghiêm túc Nghị định 11 của Chính phủ và Chỉ thị 01 của NHNN về việc kiềm chế tăng trưởng tín dụng dưới 20% trong năm 2011, nhưng hầu hết các ngân hàng đều có lãi, mà chủ yếu là lĩnh vực tín dụng.

Thực tế cho thấy, trong khi lãi suất huy động bị khống chế ở mức 14%/năm thì nhiều ngân hàng vẫn “vượt rào” đẩy lãi suất cao hơn và lãi suất cho vay vẫn có “cửa” để các ngân hàng đua nhau tăng lên mức cao từ 26%/năm trở lên.

Báo cáo hoạt động kinh doanh quý 1/2011 của các NHTM cho thấy, hầu hết các ngân hàng có quy mô nhỏ đều có tỷ trọng cho vay ở lĩnh vực phi sản xuất khá cao, như ngân hàng TrustBank, tính đến cuối tháng 3/2011 có tỷ trọng vay 44%, OCB khoảng 30%, ngân hàng SHB là 23%...

Trong khi đó, theo chỉ thị 01 của NHNN, các tổ chức tín dụng (TCTD) phải thực hiện giảm tốc độ và tỷ trọng cho vay lĩnh vực phi sản xuất và áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất của TCTD so với tổng dư nợ đến 30/6/2011 tối đa là 22% và đến 31/12/2011 tối đa là 16%.

Tại văn bản số 2956/NHNN-CSTT, Thống đốc NHNN cũng đã yêu cầu các NHTM và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài kiểm soát hoạt động tín dụng trong năm 2011. Trong đó, đối với dư nợ tín dụng lĩnh vực phi sản xuất, Thống đốc NHNN yêu cầu các NHTM thực hiệm giảm tốc độ tỷ trọng cho vay và gửi báo cáo về Vụ Chính sách tiền tệ - NHNN chậm nhất vào ngày 12/7 tới.

Danh mục lĩnh vực cho vay phi sản xuất được NHNN liệt kê gồm: cho vay chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán; cho vay để đầu tư, kinh doanh bất động sản; cho vay đối với các nhu cầu vốn để phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (cho vay tiêu dùng).

Trường hợp TCTD chưa thực hiện được tỷ trọng này theo lộ trình, sẽ áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gấp 2 lần so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc chung đối với TCTD và biện pháp hạn chế phạm vi hoạt động kinh doanh trong 6 tháng cuối năm 2011 và năm 2012.

Theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), sẽ có khoảng 24 ngân hàng phải giảm tỷ trọng dư nợ cho vay ở lĩnh vực phi sản xuất về mức thấp hơn hoặc bằng 22% trước ngày 1/7 tới đây.

Hiện các ngân hàng đang chạy nước rút để thu dần tỷ trọng cho vay lĩnh vực phi sản xuất về mức theo quy định. Một số NHTM trước có tỷ trong cho vay ở lĩnh vực phi sản xuất cao, nay đã hạ xuống mức dưới 20%. Tính đến ngày 31/3/2011, Ngân hàng ACB đã giảm xuống còn 18%, Ngân hàng Quân đội (MB) còn khoảng 17%, DongA Bank còn tối đa là 20%...

http://www.stox.vn/News/ty-trong-cho-vay-phi-san-xuat-kha-cao.html


Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

Chiến tranh tiền tệ Mỹ -Trung

Âm mưu thiết lập trật tự thế giới mới ?

Trước những tranh cãi chung quanh việc Mỹ muốn Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ, người ta tự hỏi vì sao một nước có thể can thiệp vào việc định giá đồng tiền của một nước khác hay làm như thế nào để định giá đồng tiền của nước mình sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế.

Lập luận của Mỹ

Trong giao dịch ngoại thương, tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền chưa hẳn phản ánh chính xác sức mua của chúng. Lấy ví dụ chuyện hớt tóc, giá một lần hớt tóc ở Việt Nam chỉ vào khoảng 20.000 đồng trong khi ở Mỹ mất khoảng 10 đô-la. Nếu giả dụ toàn bộ giao thương giữa Mỹ và Việt Nam chỉ xoay quanh chuyện hớt tóc và giả dụ người ta có quyền chọn lựa bất kỳ nơi nào để hớt tóc mà không phải lo các chi phí khác, chắn chắn dân Mỹ sẽ đổ sang Việt Nam, lấy chừng hơn 1 đô-la, đổi sang tiền Việt để được hớt tóc với giá quá hời. Cũng chắc chắn trong tình hình đó, giới hớt tóc ở Mỹ sẽ phản đối dữ dội, đòi đồng nghiệp ở Việt Nam nâng giá hớt tóc lên 200.000 đồng hay nếu không, đòi Việt Nam phải nâng giá tiền đồng lên để đạt tỷ giá chừng 20.000 đồng ăn 1 đô-la Mỹ.

Trong quá khứ chuyện tương tự đã từng xảy ra. Năm 1985, năm nước Pháp, Đức, Nhật, Anh, Mỹ đồng ý định giá lại đồng đô-la Mỹ trong tương quan với đồng yên Nhật và đồng mark Đức vì lúc đó hàng hóa của Nhật đang tràn ngập thị trường nhờ giá rẻ và Mỹ đang chịu cảnh thâm hụt mậu dịch lớn với nước này. Ngay lập tức đồng yên lên giá mạnh, từ 239 yên/1 đô-la vào năm 1985 lên 128 yên/1 đô-la vào năm 1988, một mức tăng gần gấp đôi.

Lịch sử đang được lập lại với Trung Quốc. Kể từ khi trở thành công xưởng của thế giới, hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc đã đem về cho nước này những khoản thặng dư mậu dịch khổng lồ. Bán hàng, lấy tiền đô-la về, lẽ ra nước này phải để cho giá trị đồng nội tệ tăng lên dần dần, theo quy luật của một cơ chế tỷ giá thả nổi nhưng họ lại neo chặt tỷ giá với đồng đô-la. Để làm được việc này, Trung Quốc phải mua vào ngày càng nhiều những khoản đô-la do ngoại thương đem về (làm sao họ làm được chuyện đó mà không gây ra lạm phát là một chuyện khác) và xem như gián tiếp phá giá đồng tiền của họ. Trong ngoại thương, ai cũng biết bên cạnh quy luật cung cầu, nếu hàng nước nào rẻ hơn sẽ bán chạy hơn. Rẻ hơn ở đây chính là việc định giá đồng tiền sao cho thấp hơn của đối thủ cạnh tranh.

Thật ra, vấn đề này đã được nêu lên từ lâu và trước khi khủng hoảng tài chính xảy ra, Trung Quốc đã từng chịu nhiều áp lực từ Mỹ và một số nước khác phải để cho đồng nhân dân tệ lên giá. Năm 2005 Trung Quốc chính thức gỡ bỏ việc neo đồng nội tệ với đồng đô-la, để cho đồng tiền nước mình lên giá dần dần từ mốc 8,35 lên 6,8 nhân dân tệ ăn 1 đô-la vào tháng 7-2008. Khủng hoảng tài chính xảy ra, Trung Quốc ngưng việc định giá lại đồng tiền và các nước khác cũng ngưng gây sức ép.

Nay, những nhà kinh tế nổi tiếng như Paul Krugman lại chỉ trích chính sách theo đuổi một đồng tiền yếu của Trung Quốc. Theo tính toán của ông, chính sách này đang làm cho 1,4 triệu người Mỹ thất nghiệp vì công nghiệp sản xuất ở Mỹ không cạnh tranh nổi hàng hóa nhập từ Trung Quốc và làm cho quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu bị chậm lại đáng kể. Nhìn rộng ra, khoản ngoại tệ khổng lồ chừng 2.400 tỷ đô-la mà Trung Quốc đang nắm giữ làm méo mó lãi suất ở những nước như Mỹ, có khả năng tạo ra những bong bóng tài sản mới, là nguyên nhân của chính cuộc khủng hoảng vừa qua. Nếu không giải quyết sự mất cân đối đó thì chính sách đồng nhân dân tệ yếu có thể khơi ngòi cho một cuộc khủng hoảng khác. Hiện nay mỗi tháng Trung Quốc tích lũy thêm được 30 tỷ đô-la vào dự trữ ngoại tệ của mình còn IMF dự báo thặng dư thương mại nước này trong năm 2010 sẽ lên đến 450 tỷ đô-la, gấp 10 lần năm 2003.

Lập luận của Trung Quốc

Dĩ nhiên Trung Quốc thẳng thừng bác bỏ những cáo buộc cho rằng chính sách tiền tệ của họ đang gây khó khăn cho kinh tế thế giới. Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo khẳng định đồng nhân dân tệ không được định giá thấp và phản đối chuyện một nước lại dùng những biện pháp ép buộc nước khác nâng giá đồng tiền. Mặt khác, ông Ôn Gia Bảo cũng cho rằng việc cải cách chế độ tỷ giá của Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục, cho thấy Trung Quốc cũng đang chịu sức ép phải lường trước để tránh những biện pháp bảo hộ của các nước đối với hàng hóa từ Trung Quốc. Lý lẽ của Trung Quốc đưa ra còn bao gồm số liệu cho thấy đến 60% hàng xuất khẩu từ nước này là do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chứ không phải của doanh nghiệp Trung Quốc – nâng giá nhân dân tệ, làm hàng hóa xuất từ Trung Quốc đắt đỏ hơn, sẽ có hại trước tiên cho chính các doanh nghiệp này.

Có lẽ Trung Quốc nhìn vào bài học Nhật Bản ngày xưa – ngay sau khi nâng giá đồng yên, giá bất động sản và chứng khoán nước này tăng vọt. Đồng yên càng lên giá, việc đầu cơ vào các sản phẩm tài chính càng có lãi lớn. Tất cả dẫn đến hiện tượng bong bóng tài sản ở Nhật mà sau khi vỡ tung đã gây trì trệ cho nền kinh tế nước này cho tận đến hôm nay.

Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem hay không xem Trung Quốc là “nước thao túng tiền tệ”. Dưới sức ép của dư luận trong nước, nếu Mỹ đưa ra một phán quyết như thế - khả năng xảy ra chiến tranh thương mại giữa hai nước sẽ cao hơn và có hại cho cả đôi bên. Xem ra, đây sẽ là giai đoạn “đấu võ bằng miệng” ồn ào nhất giữa hai nước – với Trung Quốc luôn luôn cho rằng Mỹ “chính trị hóa” chuyện tỷ giá. Còn các nghị sĩ Mỹ thì đã đưa ra dự luật chuẩn bị cho việc trừng phạt hàng hóa nhập khẩu Trung Quốc.

Có hay không một giải pháp dung hòa?

Khi bàn đến giải pháp, Paul Krugman đưa ra những biện pháp cứng rắn nhất. Ông đề nghị ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ phải tuyên bố Trung Quốc là nước thao túng tỷ giá nhằm tìm lợi thế cạnh tranh không công bằng trong giao thương quốc tế. Sau đó, chính phủ Mỹ sẽ phải có biện pháp mạnh. Năm 1971, Mỹ đã có lúc đánh 10% thuế phụ thu lên hàng nhập khẩu, mấy tháng sau mới bỏ khi các nước như Đức và Nhật phải nâng giá đồng tiền của họ lên. Lần này Krugman đòi áp dụng biện pháp tương tự nhưng với mức thuế cao hơn, đến 25%!

Ở đây cần lưu ý rất nhiều ý kiến đồng tình đồng nhân dân tệ đang bị định giá thấp hơn thực tế từ 20%-40%, kể cả IMF hay WB nhưng giải pháp đưa ra thì khác nhau xa. Thầy cũ của Krugman, GS Jagdish Bhagwati cho rằng tỷ giá như các cây kim trên chiếc đồng hồ, ý nói vấn đề nằm ở cơ chế bên dưới chứ không phải biểu hiện bên ngoài. Giả thử không tồn tại hàng hóa của Trung Quốc thì hàng hóa của Nhật, Ấn Độ, Brazil… sẽ tràn vào thị trường Mỹ và lúc đó Mỹ cũng sẽ có vấn đề tỷ giá với các nước này. Ông cho rằng không sớm thì muộn, không cần ai ép, Trung Quốc cũng sẽ phải chi tiêu thặng dư mậu dịch vào các công trình hạ tầng trong nước để nâng cao mức sống cho người dân.

Ông Romano Prodi, cựu chủ tịch Ủy ban châu Âu có vẻ hiểu tâm lý Trung Quốc hơn cả khi cho rằng phương Tây không nên “dạy” Trung Quốc phải làm gì với đồng tiền nước họ vì họ sẽ tự ái mà không làm theo. Tờ the Economist cũng có nhận định tương tự khi đưa ra lời khuyên cứ để tự Trung Quốc nhận ra nhu cầu của chính họ phải nâng giá đồng tiền. Mặc dù các quan chức Trung Quốc luôn nói nâng giá đồng tiền nước họ sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phá sản (biên lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp này chỉ còn dưới 2%), bản thân họ cũng hiểu nâng giá đồng tiền sẽ trực tiếp nâng sức mua của người dân. Về lâu về dài, Trung Quốc phải cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng giảm bớt phụ thuộc vào xuất khẩu để tránh những cơn biến động từ bên ngoài. Nâng giá đồng tiền là cột trụ của việc tái cơ cấu này.

Nhiều nhà phân tích cho rằng quá trình phát triển của Trung Quốc về thực chất là quá trình tận dụng lao động giá rẻ trong nước để ôm vào một lượng đô-la khổng lồ và trở thành con tin của sự lên xuống thất thường của đồng đô-la. Nay để cho đồng tiền lên giá, tức là gián tiếp cải thiện sức mua của giới công nhân, sẽ là biện pháp “kích cầu” đúng nghĩa và dài hạn nhất. Một đồng nhân dân tệ mạnh hơn sẽ giúp kiểm soát lạm phát, giảm bớt đầu tư lãng phí.

Bởi vậy có thể dự đoán Trung Quốc sẽ quay trở lại chính sách nâng giá đồng nhân dân tệ, không phải ngay bây giờ nhưng theo một lộ trình dần dần như những năm trước. Từ năm 2005 đến 2008, đồng nhân dân tệ đã lên giá đến 21%. Vấn đề là làm sao để Trung Quốc thấy chuyện đồng nhân dân tệ của họ là chuyện của thế giới chứ không phải là sự đối đầu chỉ riêng giữa Mỹ và Trung Quốc. Và quan trọng hơn hết, làm sao để Trung Quốc không bị “mất mặt” trước áp lực khá lộ liễu của Mỹ.

Bản chất cuộc chiến tỷ giá Mỹ - Trung?

rong chuyến công du sắp tới tại Indonesia, Tổng thống Obama sẽ đẩy mạnh việc xây dựng một khu vực tự do mậu dịch khu vực Thái Bình Dương để cạnh tranh, ảnh hưởng với Hiệp định mậu dịch tự do giữa Trung Quốc và ASEAN…

Dù áp lực tăng giá đồng NDT ngày càng lớn, nhưng Bắc Kinh vẫn cân nhắc trong việc điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ. Không chỉ liên quan tới yếu tố kinh tế, đồng NDT được định hướng sử dụng như một vũ khí trên nhiều lĩnh vực.

Ngày càng nhiều sức ép

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, cùng với sự tăng trưởng thần kỳ của kinh tế Trung Quốc, đồng NDT luôn chịu sức ép phải tăng giá từ Mỹ và phương Tây. Để dung hòa lợi ích, ngày 21/7/2005, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ (NDT) từ mức 1: 8,2765 USD/NDT (1 USD ăn 8,2765 NDT) lên mức 1: 8,11 (USD/NDT).

Đồng thời, Trung Quốc cũng tuyên bố chấm dứt gần 1 thập kỷ cố định tỷ giá đồng NDT vào đồng đôla Mỹ trong một khung dao động rất hẹp là 1: 8,26-8,28 USD/NDT (kể từ năm 1996) để chuyển sang cơ chế tỷ giá mới linh hoạt hơn, quản lý tỷ giá đồng tiền dựa trên sự biến động của một rổ các đồng tiền của các nước đối tác thương mại chính của Trung Quốc.

Từ đó đến nay, đồng tiền này vẫn chịu sức ép tăng giá và sức ép đó gia tăng tùy vào từng thời điểm cụ thể. Giai đoạn 2008 – 2009, khi thế giới phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính, sức ép này tạm thời lắng dịu. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới đang có dấu hiệu hồi phục và tăng trưởng trở lại thì cuộc chiến tỷ giá giữa Mỹ và Trung Quốc đang có dấu hiệu căng thẳng trở lại.

Ngày 17/3/2010, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã lên tiếng ủng hộ Mỹ trong việc kêu gọi Trung Quốc xem xét nâng giá trị NDT. Giám đốc điều hành IMF Dominique Strauss-Kahn nói trước Nghị viện châu Âu tại Brussels: “Trong vài trường hợp, không thể tránh khỏi việc thay đổi tỷ giá. NDT của Trung Quốc hiện ở mức quá thấp vì thế cần định giá lại để giúp cân bằng cán cân thanh toán”. Trước đó, Ngân hàng Thế giới (WB) đã thúc giục Trung Quốc nâng giá trị NDT để giảm lạm phát và giảm sức nóng của nền kinh tế mà tổ chức này dự báo năm nay sẽ đạt mức 9,5%.

Trong phiên điều trần tại Hạ viện ngày 24/3/2010 vừa qua, nhiều nhà lập pháp và chuyên gia Mỹ đã yêu cầu chính quyền Tổng thống Barack Obama tiến hành các biện pháp đa phương để chống lại chính sách tiền tệ bị cho là không linh hoạt của Trung Quốc. Các nghị sĩ Mỹ cho rằng Washington cần đưa vấn đề tỉ giá đồng nhân dân tệ ra các diễn đàn quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), hay nhóm G-20 để tận dụng sự hỗ trợ của các nước châu Âu và châu Á cũng quan ngại về đồng NDT.

Tại sao Mỹ lại gia tăng sức ép với Trung Quốc?

Thứ nhất, Mỹ cho rằng Trung Quốc luôn cố tình định giá đồng NDT thấp hơn so với giá trị thực của nó để hưởng lợi trong xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Quốc hội Mỹ dưới thời Tổng thống Bush cũng đã từng yêu cầu Bắc Kinh tăng tỉ giá đồng NDT. Từ tháng 7/2005 đến đầu năm 2008, Trung Quốc cũng đã có điều chỉnh tỉ giá đồng tiền của mình và tổng cộng lên được 20% so với đồng USD.

Nhưng đồng USD lại mất giá và cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 đã khiến Bắc Kinh neo đồng NDT vào đồng tiền Mỹ với tỉ giá thấp để dùng xuất khẩu làm động lực tăng trưởng. Và nay vấn đề này lại gây khó khăn cho một nước Mỹ đang cần đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập siêu. Mỹ hiện bị nhập siêu hơn 800 tỉ USD và nặng nhất với Trung Quốc. Tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ đang ở mức rất cao: 9,7%.

Trong thông điệp Liên bang đầu năm 2010, Tổng thống Obama thông báo kế hoạch tăng xuất khẩu gấp đôi từ nay cho đến 2015, nhằm tạo thêm 2 triệu việc làm cho người dân Mỹ. Như vậy từ nay, xuất khẩu sẽ trở thành một mục tiêu nữa của chính trị và ngoại giao Mỹ.

Thứ hai, Mỹ cần gia tăng sức ép để các chính khách Mỹ tranh thủ lá phiếu cử tri vào tháng 11 tới. 2010 là năm nước Mỹ có kỳ bầu cử nên các nghị sĩ phải chứng tỏ rằng họ quan tâm tới việc làm của người dân và quyền lợi doanh nghiệp.

Cho nên, cả hành pháp và lập pháp Mỹ đều muốn nâng sức cạnh tranh của Mỹ và ngăn ngừa khả năng cạnh tranh của Trung Quốc bằng hối suất thấp. Điều này càng được thúc đẩy bởi Đảng Dân chủ luôn có chủ trương bảo hộ mậu dịch do sức ép của các nghiệp đoàn đồng thời trong lúc đang bị thất thế, họ cũng cần phải tranh thủ từng lá phiếu.

Thứ ba, Mỹ muốn gây áp lực mạnh hơn đối với đồng NDT kết hợp cùng một loạt các chính sách ngoại giao khác để tăng cường ảnh hưởng Đông Nam Á, kiềm chế Trung Quốc. Trong chuyến công du sắp tới tại Indonesia, Tổng thống Obama sẽ đẩy mạnh việc xây dựng một khu vực tự do mậu dịch khu vực Thái Bình Dương để cạnh tranh, ảnh hưởng với Hiệp định mậu dịch tự do giữa Trung Quốc và ASEAN.

Tận dụng thời cơ, Mỹ nêu lý do xuất khẩu để mở ra chiến lược bao vây Trung Quốc với hàng loạt quyết định gần đây như Mỹ tranh thủ các nước Đông Nam Á và 4 nước trong lưu vực sông Mekong hay bán vũ khí cho Đài Loan... thì điều này sẽ gây bất lợi cho Trung Quốc.

Phản ứng của Trung Quốc

Kết thúc phiên họp Quốc hội kỳ 3 khóa 11 vừa qua, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo khẳng định “ý chí sắt thép” của Trung Quốc về các vấn đề Tây Tạng, Đài Loan và cho rằng chính Mỹ mới phải bày tỏ thiện chí thay vì gây mâu thuẫn về mậu dịch và tỉ giá đồng NDT. Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ vừa qua là do chính họ gây ra vì thiếu khả năng quản lý nền kinh tế.

Việc kinh tế thế giới và Mỹ thoát khỏi báo động đỏ là nhờ vào Trung Quốc, do mức tăng trưởng cao của nước này trong năm 2009. Thâm hụt thương mại của Mỹ hiện nay với Trung Quốc bắt nguồn từ sự toàn cầu hóa: 60% lượng hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ là của các công ty nước ngoài có cơ xưởng tại Trung Quốc... Thủ tướng Trung Quốc kết luận: sẽ không có lý do nào để đánh giá lại đồng NDT. Và theo ông việc chỉ tập trung vào đồng NDT sẽ không giúp giải quyết các tranh chấp thương mại.

Tiếp đó, ngày 24/3, tại một hoạt động diễn ra ở thủ đô Washington (Mỹ) do giới công thương Mỹ tổ chức, Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Chung Sơn tuyên bố: “Tăng giá đồng NDT không phải là phương thuốc hữu hiệu để có thể giải quyết tình trạng mất cân bằng trong quan hệ thương mại Trung-Mỹ”.

Vai trò quốc tế của đồng NDT liên tục nâng cao có một hậu quả nghịch lý, nó đẩy đồng NDT lên cao, và đồng USD do ít người mua đã bị hạ xuống. Đồng NDT càng tăng giá, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc càng phải mua thêm công trái phiếu của Mỹ để tránh phải định giá lại đồng tiền quốc gia. Như vậy, theo đúng lý thuyết, Bắc Kinh phải chấp nhận tăng giá đồng NDT và cuối cùng chấp nhận đồng tiền này có khả năng chuyển đổi.

Trong khi các lý do kinh tế cho thấy sự điều chỉnh đồng tiền nước này ngày gần hơn thì các lý do chính trị lại không cho phép, đặc biệt trong quan hệ với Mỹ. Những bất đồng mới nảy sinh gần đây lại làm bang giao hai nước tiếp tục nóng lên. Với vị thế hiện có, lãnh đạo Bắc Kinh không muốn Mỹ gây ra sức ép khiến Trung Quốc phải nhượng bộ, đặc biệt trong vấn đề nhạy cảm liên quan tới Đài Loan và Tây Tạng.

Do đó, nếu có sự thay đổi đồng NDT thì có lẽ không phải một sớm một chiều. Hay nói cách khác, Bắc Kinh sẽ tìm cách đi ngược lại những gì chính phủ Mỹ yêu cầu, ít nhất cho đến khi những căng thẳng ngoài vấn đề kinh tế được giải quyết.

Theo một số nhà phân tích, vào quý II tới đây, Trung Quốc có thể định lại dần tỷ giá đồng NDT. Điều này tác động tiêu cực trên sức cạnh tranh của Trung Quốc nhưng bù lại có thể giúp Bắc Kinh tạo thêm ảnh hưởng trên trường quốc tế. Tăng mạnh và nhanh tỷ giá đồng nội tệ sẽ làm giảm khối dự trữ ngoại tệ bằng USD của Trung Quốc.

Cuộc chiến sẽ đi về đâu?

Sức ép nội tại của cả Trung Quốc và Mỹ đã đẩy hai cường quốc thế giới tiến tới bờ vực của một cuộc chiến thương mại quy mô lớn khó tránh khỏi trong thời gian tới. Trong cuộc chiến ấy, Mỹ đã bắt đầu nhận được sự ủng hộ của các đồng minh châu Âu cũng như các tổ chức tài chính hàng đầu của thế giới như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Cuộc chiến này rồi sẽ đi về đâu?

Theo các nhà bình luận, nếu Trung Quốc không tăng giá đồng NDT, Mỹ sẽ đơn phương áp các biện pháp trừng phạt với hàng nhập khẩu của Trung Quốc nhưng Bắc Kinh cũng sẽ trả đũa như vụ lốp xe hơi hồi năm ngoái và như vậy cả hai bên đều bị thiệt. Còn nếu Mỹ nhờ IMF, WB hay WTO can thiệp thì xem ra giải pháp này rất khó khả thi vì cơ chế của các tổ chức này.

Mặt khác, khi lấy lòng các nghiệp đoàn hòng nhận được sự ủng hộ đối với các chính sách trong nước, ông Obama lại làm mất lòng Bắc Kinh trong khi Mỹ đang cần Trung Quốc giúp đỡ về những vấn đề như thay đổi khí hậu, thương thuyết về vũ khí hạt nhân với CHDCND Triều Tiên và Iran và vấn đề kinh tế toàn cầu.

Trong khi đó, điều mà nhiều nhà kinh tế Mỹ băn khoăn nhất hiện nay chính là Trung Quốc đang là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Với lợi thế nắm giữ hơn 1.000 tỷ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, Trung Quốc có lợi thế trong các cuộc đàm phán về kinh tế với Mỹ. Nhiều nhà phân tích của Mỹ còn lo ngại khả năng từ chỗ lệ thuộc vào chủ nợ Trung Quốc, Mỹ sẽ lệ thuộc vào nhiều vấn đề khác, kể cả an ninh.

Trong vụ Mỹ bán vũ khí cho lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) vừa qua, nhiều tiếng nói từ Trung Quốc kêu gọi trả đũa bằng cách bán phá giá trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ do Trung Quốc nắm giữ. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng sẽ phải tính toán nếu bán phá giá cổ phiếu của Mỹ như vậy, số tiền thu về của họ cũng sẽ bị giảm mạnh, điều mà bất cứ chủ nợ nào cũng không muốn.

Ở khía cạnh nào đó, việc cung cấp tài chính của Trung Quốc cho Mỹ thông qua việc mua trái phiếu chính phủ đã tạo thuận lợi cho chính sách phục hồi kinh tế và giải quyết các vấn đề mà Mỹ đang phải đối mặt. Tuy nhiên, chính việc cung cấp tài chính này cũng làm ảnh hưởng đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ nội địa và về lâu dài sẽ làm suy yếu vai trò toàn cầu của Mỹ.

Như vậy, khả năng của Chính phủ Mỹ đưa ra các quyết định liên quan đến thương mại và tài chính quốc tế thời gian tới sẽ bị hạn chế bởi sự phụ thuộc về tài chính từ Trung Quốc.

Nhưng vấn đề mấu chốt không phải là do Mỹ thiếu sức mạnh để đối phó, mà là điều ràng buộc giữa hai nền kinh tế này là quá lớn: Mỹ cần tiền của Trung Quốc còn Trung Quốc lại cần thị trường của Mỹ. Cuộc chiến sắp tới sẽ phức tạp nhưng cuối cùng nó cũng “bất phân thắng bại” vì cả hai bên đều cần duy trì quan hệ đôi bên cùng có lợi.


Đồng Amero - đòn "chém gió" của Mỹ?


( Tác giả: Tiến Đề (tổng hợp và bình luận) // Trích đăng một phần từ Tuanvietnam )

Liệu sắp tới đồng Amero có được tung ra như một cứu cánh giúp Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay hay chỉ là đòn "chém gió" của gã khổng lồ. Tuần Việt Nam xin gửi tới độc giả bài tổng hợp nhằm cung cấp thêm một góc nhìn về những thông tin đang gây tranh cãi này.

Những thông tin dồn dập về đồng tiền mới mang tên Amero xuất hiện nhiều trên các trang mạng nổi tiếng thế giới và trong nước những năm gần đây. Có thông tin cho rằng: "Năm 2006, cả 3 nước Mỹ - Canada và Mehico đã đạt được một thỏa thuận bí mật về một đồng tiền Amero chung với tư cách là một đơn vị tiền tệ mới. Thỏa thuận này đánh dấu những bước chuẩn bị cho việc thay thế đồng USD. Nằm trong kế hoạch hợp tác có tên "Liên minh Bắc Mỹ" (NAU)". Điều này đã tạo nên những cơn sóng ngầm trên thị trường tài chính tiền tệ thế giới trong bối cảnh của cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay.

Theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới. Mặc dù ý tưởng về liên minh cũng được đề xuất trong giới học giả nhưng các quan chức tại cả ba nước trên đã nhiều lần phủ nhận kế hoạch thành lập liên minh trên.

Mục đích của Amero là gì?

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện này xét về bản chất là cuộc khủng hoảng của hệ thống tài chính tiền tệ. Xuất phát chính từ sự lũng đoạn và thao túng của một số nền kinh tế lớn mà đại diện là các nhà tài phiệt sừng xỏ. Với số nợ quá lớn hiện nay, chính phủ Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ và thực tế Mỹ đang tăng sức ép với Trung Quốc trên các lĩnh vực như chính trị - ngoại giao - kinh tế - quân sự.v.v và cùng những thông tin bên lề về sự xuất hiện của đồng Amero được coi như một giải pháp cuối cùng sẽ được thực thi khi tất cả các giải pháp trên không thành công.

Năm 1999, lần đầu tiên nhà kinh tế người Canada Herbert Grubel - sáng lập viên Viện Khoa học kinh tế Fraser, đã đưa ra đề xuất này với sự hỗ trợ của Viện C.D Howe và Trung tâm nghiên cứu phát triển A.C của Mêhicô (CIDAC). Tháng 3/2005, các Tổng thống George Bush (Mỹ) và Vicente Fox (Mêhicô) cùng Thủ tướng Canada Paul Martin đã gặp nhau tại Trường đại học Baylor, bang Texas (Mỹ) để thống nhất kế hoạch thực hiện đồng tiền này. Các nhà phân tích, chuyên gia gọi kế hoạch này là Hiệp định Mậu dịch tự do tột đỉnh (TLC-Ultra) hoặc Siêu khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (Super-Nafta). Ba nước tận dụng bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay để tạo cớ lôgic phát hành và đưa vào sử dụng đồng Amero trong một tương lai gần.

Về cơ cấu hoạt động, đồng Amero sẽ ấn định một tỷ giá hối đoái không làm xáo trộn thu nhập, tài sản và khả năng cạnh tranh quốc tế của mỗi nước, vào thời điểm chuyển đổi. Ngân hàng trung ương Bắc Mỹ, với ban Thống đốc gồm đại diện do chính phủ các nước thành viên chỉ định, sẽ hoạt động giống như Ngân hàng trung ương châu Âu. Các Ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên sẽ trở thành chi nhánh của Ngân hàng trung ương Bắc Mỹ.

Đưa đồng Amero vào lưu hành sẽ làm cho các nước thành viên khác lệ thuộc hơn vào Mỹ, sẽ củng cố hơn các công ty xuyên quốc gia và sẽ là rào cản ngoại cảnh cho các nước chậm phát triển. Đồng Amero nếu được lưu hành như dự định sẽ đem lại lợi nhuận khổng lồ cho Mỹ và Canada còn Mêhicô cũng như các nước sau này có gia nhập thì sẽ theo sau để chờ hứng cái gọi là "hiệu ứng thấm tràn" của thuyết chữ U lộn ngược của nhà kinh tế Mỹ gốc Nga Simon Kuznets (giải Nobel kinh tế năm 1971).

Một trong những lý do mà Mỹ muốn đưa ra lưu hành đồng Amero là cuộc khủng hoảng của đồng USD hiện nay đang biến Mỹ thành con nợ lớn. Hiện giờ, tổng số nợ đã chiếm trên 65,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ. Trong khi đó, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc và Nhật Bản có một lượng lớn trái phiếu của ngân khố Mỹ. Và trên thực tế hiện nay là một số nước sản xuất dầu mỏ đã chuyển phần lớn dự trữ ngoại tệ sang các đồng tiền khác và giao dịch chủ yếu bằng các đồng tiền đó.

Trước khi phát hành đồng Amero, sẽ phải làm cho đồng USD sụp đổ, và có nhiều phân tích và dự đoán hình như chiến lược này đang được triển khai. Thậm chí một số người còn cho rằng cuộc khủng hoảng thị trường cũng góp phần đẩy nhanh quá trình suy yếu của đồng USD và như thế tất sẽ dẫn đến kịch bản của Kế hoạch cho ra đời đồng tiền mới, đồng Amero. Nhiều nguồn tin khác nhau cho rằng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) không công bố thông tin M34, tức là không muốn cho biết "khối lượng tiền thực" đang bơm vào thị trường trong cơn suy thoái hiện nay.

Thêm nữa xét trên các vấn đề chính trị và an ninh bối cảnh nước Mỹ và trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức đã cho thế giới thấy rằng. Ngày nay là xu thế phát triển đa cực, Mỹ không thể làm mưa làm gió như trước được nữa. Sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến nhiều nước bất ngờ. Nếu Trung Quốc vẫn duy trì mức độ tăng trưởng trên 10% như hiện nay, chỉ sau 10 - 15 năm nữa có khả năng Trung Quốc mua đứt nước Mỹ nếu xét vào số nợ. Và hoàn cảnh hiện nay khiến Mỹ đau đầu là phải chi một chiến phí rất lớn ở Apghanisan và Irad. Cuộc Khủng hoảng tín dụng - tiền tệ không thể tránh được nếu không thuyết phục được Trung Quốc thả nổi đồng nhân dân tệ và thực tế việc thuyết phục ấy đã không thành công.

Vậy Mỹ sẽ phải đối phó với cuộc khủng hoảng này như thế nào? Các câu hỏi và giả thuyết được đưa ra: "Mỹ sẽ phát hành trái phiếu chính phủ nhưng điều này sẽ biến Mỹ trở thành con nợ lớn hơn. In thêm tiền, phương án này sẽ thúc đẩy lạm phát, khiến nguy cơ vỡ nợ càng lớn hơn. Mỹ tung dự trữ vàng ra để cứu nguy nền kinh tế? Như vậy sẽ làm suy yếu đồng đôla, gián tiếp làm lợi cho các nước xuất khẩu và khiến thâm hụt thương mại thêm trầm trọng. Bởi nhập siêu là tự sát".

Dựa trên những phân tích, nhận định trên, khi mà các giải pháp cứu nguy không đem lại hiệu quả như mong đợi thì kế hoạch cuối cùng là cho ra đời đồng Amero và đây sẽ là khởi đầu mới cho một nước Mỹ không nợ nần. Điều này có nghĩa là một kế hoạch "xù nợ" sẽ được thực thi. Và các ông chủ nợ của Mỹ hiện nay sẽ lãnh hậu quả.

Lịch sử đã chứng minh như thế nào?

Bối cảnh và tình hình kinh tế thế giới hiện nay, thực sự đã khác xa so với những biến động trong quá khứ, thế nhưng xét về bản chất của những biến động đó thì đều xuất phát từ việc các hệ thống tài chính tiền tệ trở thành công cụ của một số quốc gia và các nhà tài phiệt. Nó trở thành con bài chủ chốt để có thể xâm nhập và kiểm soát khuynh đảo bất kỳ quốc gia nào đó để hở và không kiểm soát chặt các hệ thống tài chính của mình.

Và những biến động trong quá khứ vừa qua đã chứng minh rõ điều này. Xin được điểm qua sơ lược một vài ví dụ để chúng ta thấy được sức mạnh khủng khiếp khi các hệ thống, công cụ tài chính được sử dụng và trở thành con bài chi phối các nền kinh tế.

"Trong thập kỉ 70-80 của thế kỉ 20, Nhật đã mua và đầu tư rất nhiều ở Mỹ, kể cả trái phiếu chính phủ vì thế Nhật có thặng dư mậu dịch lớn với Mỹ giống như Trung Quốc bây giờ. Do kinh tế phát triển cao trong hai thập kỷ 1970-1980, giá tài sản Nhật lên như bong bóng, đặc biệt là từ năm 1985 trở đi, khi đồng Yen tăng giá, Nhật thừa tiền do việc dư thừa cán cân thương mại, đã ồ ạt mua tài sản nước ngoài, kể cả Trung tâm Rockefeller ở thành phố New York, một biểu tượng của tư bản Mỹ".

Sự uy hiếp này đã buộc Mỹ và các đồng minh phải ép Nhật bằng thỏa thuận Plaza Accord.

"Tháng 9/1985, các nhà tài phiệt ngân hàng cuối cùng cũng ra tay: "Thỏa thuận Plaza" đã được bộ trưởng tài chính của năm nước là Mỹ. Anh, Nhật, Đức, Pháp kí tại Plaza hotel với mục đích để cho đồng đô la mất giá một cách "có kiểm soát" so với các loại tiền chủ yếu khác. Dưới áp lực của Beck - Bộ trưởng bộ tài chính Mỹ, ngân hàng Nhật Bản buộc phải đồng ý nâng giá đồng Yên. Chỉ trong vòng mấy tháng sau khi thỏa thuận Plaza được kí kết, tỉ giá đồng Yên Nhật từ 250 Yên đổi 1 Đô la Mỹ đã tăng lên mức 149 Yên ăn 1 Đô la Mỹ"

Đòn đánh chí mạng này khiến cho tất cả các khoản đầu tư trước đây của Nhật vào Mỹ bị mất giá hơn một nửa, cũng có nghĩa là Mỹ đã "bóc lột" Nhật một cách trắng trợn bằng cách "quịt" 50% số nợ với Nhật. Đến năm 1995, mười năm sau đồng Yen lên giá đỉnh điểm là một USD bằng 80 Yen. Với giá đồng Yen cao lên, Nhật mất dần khả năng cạnh tranh nếu chỉ sản xuất ở trong nước để xuất khẩu. Và buộc phải chuyển hướng đầu tư sang các khu vực khác để tránh thiệt hại.

Hơn 20 năm sau, Trung Quốc đã thế chân Nhật trở thành "chủ nợ" lớn nhất của Mỹ. "Có điều những nỗ lực của Mỹ trong suốt giai đoạn 2000 - 2006 không làm Trung Quốc nhượng bộ và đồng NDT chỉ được thả lỏng một phần và cho lên giá từ từ so với USD trong 2 năm gần đây. Điều đáng nói là dù đồng NDT đã bắt đầu lên giá, thặng dư mậu dịch của Trung Quốc với Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng và những số liệu gần đây cho thấy gần như toàn bộ thâm hụt ngân sách của Mỹ đều được tài trợ từ nguồn này". Hiện tại dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã đạt trên hai ngàn tỷ USD. Thử tưởng tượng nếu Mỹ thành công trong việc làm đồng USD mất giá khoảng 50% so với đồng NDT như đã làm với Nhật năm 1985, số tiền Trung Quốc bị "quịt" sẽ là bao nhiêu?

Đối với Thái Lan- quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng năm 1997, đã khiến cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra phải thốt lên "Chúng ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh lạnh. Từ giờ trở đi, thế giới phải đối mặt với một cuộc chiến tranh khác cũng không kém phần khốc liệt. Cuộc chiến tranh trên lĩnh vực kinh tế - trong quá khứ phương tiện chiến tranh là Quân đội và Pháo hạm. Giờ đây phương tiện chiến tranh đã thay đổi vũ khí hiện đại chính là các luồng vốn luân chuyển... để tăng cường sức cạnh tranh kinh tế. Trước kia, các quốc gia thua trận bị tước đoạt quyền kiểm soát lãnh thổ, ngày nay họ bị tước đoạt quyền kiểm soát kinh tế".

Cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997, đã dạy cho các nền kinh tế một bài học sâu sắc rằng hệ thống tài chính sẽ trở thành vũ khí lợi hại mà các nhà tài phiệt sử dụng để đối phó với bất kì nền kinh tế nào không có khả năng tự chủ và thiếu kiểm soát hệ thống tài chính của mình.

Nguồn: Sưu tầm

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Dữ liệu ROIC, lãi suất và câu chuyện đầu tư

Chỉ số lãi trên vốn đầu tư (ROIC) trên TTCKVN trong 4 năm qua chỉ ra rằng, các DNNY sẽ chỉ tạo ra giá trị cho cổ đông nếu mặt bằng lãi suất về dưới 14%. Và như vậy, suy rộng ra lãi suất cho vay các doanh nghiệp nên giảm về tối thiểu 14% để các doanh nghiệp có thể phát triển bền vững. Ở góc độ quan điểm đầu tư dài hạn, nếu tình hình không được cải thiện thì tốt hơn hết là đem tiền đi gửi ngân hàng với lãi suất thỏa thuận 17-18% với rủi ro thấp thay vì góp vốn cho các doanh nghiệp không có khả năng tạo ra ROIC cao hơn con số này.

Đã có nhiều bài báo và nhận định cho rằng lãi suất phải giảm tuy nhiên mức giảm là bao nhiêu thì doanh nghiệp sẽ “chịu đựng” được. Chúng tôi đã tiếp cận vấn đề này từ góc độ hiệu quả đầu tư dựa trên chỉ số ROIC trên phần mềm StoxPro mà quý khách hàng đang dùng. Trong bối cảnh lãi suất cho vay tín dụng đang ở mặt bằng cao xung quanh 20%. Dữ liệu cho thấy rằng DNNY sẽ không thể tạo ra giá trị cho cổ đông chúng ta nếu tiếp tục duy trì mức lãi vay này. Xem biểu đồ phía sau và file dữ liệu đính kèm.

Một phát hiện đáng chu ý nữa là các DNNY có ROIC cao và mô hình kinh doanh hấp dẫn, ví dụ như VNM có ROIC 49% trong năm 2010, thì vẫn luôn luôn là những cổ phiếu hấp dẫn. Dù cho trong bất kỳ hoản cảnh thị trường nào. Có thể cũng vì lý do này cùng với một mô hình kinh doanh an toàn và bền vững và kết quả lợi nhuận quý 1/2011 ấn tượng như VNM tiếp tục khẳng định “voi phi nước đại”. VNM đang được đăng ký mua gấp 6 lần số cổ phiếu được chào phát hành riêng lẻ bởi các tổ chức nước ngoài (theo VCSC) và giá dự mua dự kiến có thể lên đến 150 ngàn đồng/cp – cao hơn 50% giá giao dịch trên thị trường hiện tại.

Một số ghi nhận khác từ file dữ liệu:

· ROIC trung bình trong 4 năm qua của hơn 655 doanh nghiệp niêm yết vào khoảng 13.8%. Mức lãi suất mà doanh nghiệp sẽ chỉ chịu đựng được (về dài hạn) sẽ phải nằm dưới mức lợi nhuận trên vốn đầu tư của doanh nghiệp (ROIC), tức là nhỏ hơn 14%. Do đó theo chúng tôi, đây là một ngụ ý chính sách tốt. Tuy nhiên giảm mặt bằng lãi suất với mức CPI cao hiện nay là câu chuyện “con gà – quả trứng”.

· Có khoảng 30% các DNNY có ROIC bình quân 4 năm từ 2007-2010 cao hơn 18% trong năm 2010 và 30% có ROIC thấp hơn 10%.

· ROIC của ngành hóa chất là lớn nhất đạt 26,8% năm 2010 trong đó có DPM. Sau đó đến thực phẩm và đồ uống (20%) – trong đó có VNM.

· Top 5 cổ phiếu có ROIC cao nhất bao gồm: KTB (92%), NNC (84%), NTL(83%), NET (68%) và D11 (67%). Tuy nhiên các cổ phiếu này chưa được chú ý do mô hình kinh doanh không có tính bền vững cao hoặc quy mô vốn hóa doanh nghiệp quá nhỏ.

· Trong Top 20 cổ phiếu có mức vốn hóa lớn nhất thì có ROIC bình quân trên 17%. Các doanh nghiệp có ROIC cao, ví dụ như VNM (49%), DPM (29,6%) và FPT (26,7%) sẽ là các cổ phiếu tiếp tục được lựa chọn bởi các nhà đầu tư tổ chức lớn. Đây là một ngụ ý quan trọng cho các tổ chức có thể phân tích và tìm hiểu sâu hơn các cổ phiếu và doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động cao.

· Ngoài ra, theo dữ liệu của StoxPlus, tỷ lệ đòn bảy tài chính trên TTCKVN hiện tại vào khoảng 1 lần (Vốn vay/Vốn chủ sỡ hữu). Chủ yếu ngành BĐS và Xây dựng có tỷ lệ cao còn lại các ngành khác hầu như đều ở mức thấp hơn 1x. Do đó, dữ liệu cũng cho thấy mức lãi suất cao sẽ chủ yếu sẽ tác động đến các DN BĐS, đặc biệt là các đơn vị đã vay và đang thi công.

Cơ bản về chỉ số ROIC

Chỉ số thu nhập trên vốn đầu tư (ROIC hay Return on Invested Capital) được dùng để đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận từ một đồng vốn đầu tư (bất kể là vốn của cổ đông hay vốn vay) của một doanh nghiệp. ROIC được tính bằng cách lấy Lợi nhuận trước chi phí lãi vay và thuế (EBIT) chia cho vốn đầu tư (bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn).

Công thức tính: ROIC = EBIT/Tổng vốn đầu tư

Điểm hay của ROIC là không quan tâm đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Điều này cực kỳ hay khi mà các doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng đến hiệu quả từ một cơ cấu vốn tối ưu và thực tế thì chính sách tài chính tiền tệ đã làm thay đổi hành vi huy động vốn của các doanh nghiệp.

Nguồn: Stoxplus

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

Cùng suy nghĩ về khả năng lạm phát đình đốn (stagflation)

Default Inflation - những khái niệm cơ bản

I. Lạm phát là gì:

Lạm phát được định nghĩa như là sự gia tăng kéo dài về mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ, được đo lường bằng tỷ lệ tăng hàng năm.

Có vài biến thể của lạm phát:

* Giảm phát (deflation): mức giá chung thì giảm, ngược với lạm phát.

* Lạm phát phi mã (hyperinflation): lạm phát ở mức độ cao bất thường. Lạm phát vào những năm 1920 ở Đức là điển hình - 2500% trong vòng 1 tháng. Tra cứu thêm ở wikipedia thì mức chấp nhận được để phân lọai vào hyperinflation là ít nhất từ 20-30% một tháng.

* Lạm phát đình đốn (Stagflation): lạm phát đi chung với kinh tế trì trệ và thât nghiệp cao. Xảy ra ở các nước công nghiệp hóa vào những năm 1970, khi kinh tế trì trệ đi cùng lúc với OPEC tăng giá dầu hỏa.

Nguyên nhân của lạm phát: có 2 lý thuyết được chấp nhận rộng rãi:

* Lạm phát do cầu kéo (Demand - Pull Inflation): Cầu tăng nhanh hơn cung, giá sẽ tăng. Thường xảy ra với các nền kinh tế đang phát triển.

* Lạm phát do chi phí đẩy (Cost - Push Inflation): khi chi phí đầu vào tăng, các công ty buộc phải tăng giá bán ra để đảm bảo lợi nhuận biên.

Cái giá của lạm phát: lạm phát tác động đến các đối tượng khác nhau theo những cách khác nhau, và phụ thuộc vào liệu lạm phát có nằm trong tầm dự đóan hay không.

* Người đi vay sẽ hưởng lợi, và người cho vay sẽ chịu lỗ nếu không dự đóan được lạm phát

* Việc không chắc chắn về điều gì sẽ xảy ra trong tương lai do lạm phát sẽ khiến các công ty và người tiêu dùng giảm chi tiêu, sẽ ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra của nền kinh tế trong dài hạn.

* Những người có thu nhập cố định - ví dụ như hưởng lương hưu - sẽ giảm sức mua, dẫn đến giảm mức sống. Nhân viên văn phòng hưởng lương cố định, nếu không thương lượng mức tăng lương theo kịp lạm phát, cũng sẽ như vậy.

* Nền kinh tế sẽ phải chịu thêm "Menu cost", tức chi phí để in ấn lại giá mới, bao bì mới, ...

Cuối cùng, lạm phát là dấu hiệu của nền kinh tế đang phát triển.

II. Lạm phát được đo lường như thế nào?

Giá của "Rổ hàng hóa - market basket" bao gồm nhiều hàng hóa đại diện cho nền kinh tế được so sánh qua các kỳ thời gian khác nhau, tạo thành một chỉ số giá cả - là giá của rổ hàng hóa hiện nay so theo tỷ lệ phần trăm với giá cả của cùng rổ hàng hóa vào đầu năm.
Ở Bắc Mỹ, có 2 chỉ số chính để đo lường lạm phát:

* Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index - CPI): đo lường sự thay đổi về giá tiêu dùng và dịch vụ như khí đốt, thực phẩm, áo quần, xe hơi. CPI được đo lường dưới góc nhìn của người mua. Rổ hàng hóa để tính CPI rất đa dạng, lên đến 80,000 mục và được khảo sát hàng tháng.

* Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index - PPI): đo lường sự thay đổi về giá bán của các nhà sản xuất nội địa. PPI được đo lường dưới góc nhìn của người bán.

Về dài hạn, PPI & CPI đưa ra những tỷ lệ lạm phát tương tự nhau, nhưng trong ngắn hạn, PPI thường tăng trước CPI. Thường thì các nhà đầu tư theo dõi CPI hơn là PPI.

III. Lạm phát và lãi suất:

Mỗi khi bạn nghe đến lạm phát được cập nhật trên các bản tin, thường thì lãi suất sẽ được đề cập đến theo cùng hướng.

Ở USA, lãi suất được quyết định bởi Cục Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve). FED thường gặp một năm 8 lần để đặt ra các mục tiêu ngắn hạn cho lãi suất. Trong những cuộc gặp này, CPI & PPI là những nhân tố quan trọng đối với quyết định của FED.

Lãi suất tác động trực tiếp đến thị trường tín dụng (vay) vì lãi suất cao tức chi phí vay nợ sẽ cao hơn. Bằng cách thay đổi lãi suất, FED cố gắng đạt được tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, giá cả hàng hóa ổn định và mức độ tăng trưởng tốt. Một khi cắt giảm lãi suất, chi tiêu xã hội sẽ gia tăng, sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế.

Ngược với những nhầm hiểu thông thường, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể đem đến những bất lợi. Một mặt, nền kinh tế tăng trưởng quá nhanh có thể sẽ phải chịu lạm phát phi mã, gây nên những vấn đề như đã đề cập ở phần trên. Mặt khác, nền kinh tế không lạm phát có thể đã bị trì trệ. Một nền kinh tế tăng trưởng ở mức độ phù hợp đi theo nó là lạm phát vừa phải sẽ là hợp lý nhất. Và đây là nhiệm vụ của FED. Việc siết chặc - tăng lãi suất - nhằm ngăn chặn lạm phát trong tương lai, và ngược lại giảm lãi suất nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế.

Nên nhớ rằng mặc dù lạm phát là một yếu tố chính, nó không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến quyết định của FED. Ví dụ, FED có thể sẽ giảm lãi suất khi khủng hoảng tài chính nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường tài chính USA.

IV. Lạm phát và đầu tư:

Tác động của lạm phát vào danh mục đầu tư phụ thuộc vào loại chứng khoán đang nắm giữ. Nếu chỉ đầu tư vào stocks thì không cần lo lắng nhiều vì trong dài hạn, doanh thu và lợi nhuận của công ty thường theo tăng cùng nhịp với lạm phát. Tuy nhiên, gặp lạm phát đình đốn (stagflation) thì phải xem lại, vì nền kinh tế suy yếu cộng với lạm phát thì rất xấu cho stocks.

Vấn đề chính của stock & lạm phát là lợi nhuận của công ty có khuynh hướng được thổi phồng. Khi lạm phát cao, công ty có vẻ như đang tăng trưởng tốt, trong khi thực sự lạm phát là nguyên nhân chính. Khi phân tích các báo cáo tài chính, cần phải nhớ rằng lạm phát có thể tác động xấu đến thu nhập phụ thuộc vào cách công ty sử dụng để định giá hàng tồn kho (inventory). tức là quan tâm đến khả năng tái sản xuất ra sản phẩm khi xảy ra siêu lạm phát hơn là số dư bằng tiền trên báo cáo.

Cần phân biệt giữa lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) và lãi suất thực (real interest rate). Lãi suất danh nghĩa là tỷ lệ tăng của đồng tiền, còn lãi suất thực là sự gia tăng của sức mua. Real interest rate = Nominal interest rate - inflation.

Trái phiếu trượt theo lạm phát (Inflation-indexed Bonds): có những loại chứng khoán có thể mang cho nhà đầu tư lợi nhuận mà không bị lạm phát ăn hết. Treasury Inflation Protected Securities - TIPS - là một dạng đặc biệt của trái phiếu kho bạc, với vốn và lãi được buộc chặc vào CPI, sẽ gia tăng để đền bù cho lạm phát nếu xảy ra. Bù lại, tất nhiên là mức lãi sẽ rất thấp.

Nguồn : Sưu tầm

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Nhận định thị trường tuần 4 tháng 4

Thông tin cơ bản

Tin đồn CPI trên 3% tuần trước có vẻ chắc chắn thành sự thật khi lần lượt các chỉ số CPI các địa phương được công bố ở mức rất cao. CPI tháng 4 của long an được công bố 5.46% vào ngày 19, theo sau đó 1 ngày CPI của hai thành phố lớn là Hồ Chí Minh và Hà nội đều lần lượt được công ở mức 3.16% và 3.28%. Rõ ràng là những sự điều chỉnh của giá xăng dầu và vài mặt hàng vào tháng trước ngay lập tức kéo giá của các mặt hàng trong rổ CPI lên rất cao. Tháng này CPI được công bố trễ hơn thường lệ và có vẻ chính phủ lựa chọn ngày cuối tuần công bố số liệu để tránh cơn shock cho thị trường chứng khoán. Như nhận định lần trước rằng việc tăng giá của các mặt hàng xăng dầu và than..có thể tác động vào 2-3 tháng lạm phát và HSC cũng cho rằng phải đến tháng 7 cơn bão giá lần này mới chấm dứt.

Thị trường tiền tệ vẫn căng thẳng như mọi khi và lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức: ON 19-20; 1w-1m 22. Tương tự thế, lãi suất huy động các ngân hàng vẫn chào ở mức trên 22% và chưa có dấu hiệu nào cho thấy lãi suất có thể hạ được trong tương lại gần khi mà SBV chưa có động thái hỗ trợ thị trường tài chính. Ls vay tiêu dùng cho các hợp đồng cũ đã được ACB điều chỉnh từ mức 22%-26% cho thấy gánh năng nợ nần sẽ ngày càng gia tăng lên sức khỏe tài chính của các doanh nghiệp và các cá nhân trong thời gian sắp tới

Lo ngại lạm phát leo thang trên toàn cầu, vàng đã có cuộc vượt đỉnh tầm lý 1500USD/Ounce đã kéo giá vàng trong nước tăng từ 36,9tr-37.1tr/lượng lên 37,5tr-37,59tr/lượng. Giá vàng trong nước không có nhiều biến động như trước kia do giá USD đã giảm và thông tin các NHTM sẽ dừng huy động và cho vay vàng có hiệu lực từ 1/5 nên biến động giá vàng không còn lớn, chênh lệch khoảng 300.000-400.000/lượng.

Kinh tế thế giới biến động theo ảnh hưởng của đồng bac xanh: đồng USD yếu và lo lắng về tình hình thời tiết hậu thuẫn giá hàng hoá tiếp tục tăng vào sáng nay, 22/4, trước ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và kỳ nghỉ lễ Phục sinh. Chỉ số giá 19 nguyên liệu Reuters-Jefferies CRB tăng 0,5% lên mức cao nhất trong vòng 10 ngày. Đồng, đậu tương, dầu mỏ và bông đều tăng giá nhờ hoạt động mua từ phía các nhà đầu tư, khi USD giảm giá mạnh. USD đã giảm ngày thứ ba liên tiếp và hạ xuống mức thấp nhất kể từ tháng 8-2008.Đồng đô la Mỹ không còn là nơi trú ẩn cho giới đầu tư, khi chính phủ Mỹ đang có những quyết định khó khăn để giải quyết thâm hụt ngân sách và vàng được hỗ trợ tăng mạnh từ lý do này. Bên cạnh đó USD cũng chịu áp lực giảm mạnh từ việc S&P xếp hạng tín dụng trong dài hạn ở mức tiêu cực, nếu chính phủ Mỹ không tìm ra cách để cắt giảm khoản nợ khổng lồ của mình.Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tuyên bố đã sẵn sang tăng lãi suất trong thời gian sớm nhất đã khiến đồng euro tăng mạnh hơn so đồng USD và so với các đồng tiền chính khác.

Đánh giá thông tin

“Chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm” và mọi thứ khó khăn vẫn còn ở trước mắt. Rất có thể chúng ta sẽ còn chứng kiến những sự tồi tệ hơn của vĩ mô trong nước khi mà những tồn tại của kinh tế ngày càng lòi ra nhiều lỗ thủng. Các vụ thua lỗ của các tập đoàn nhà nước được đưa ra ánh sáng với những con số khủng khiếp. Phải nói rằng,cần rất nhiều thời gian để hàn gắn vết thương này. Ngoài ra, những ảnh hưởng từ kinh tế thế giới cũng sẽ tác động vào kinh tế vĩ mô trong thời gian tới. Chúng ta hãy chờ xem

Thị trường chứng khoán

Thị trường tiếp tục dao động trong dải hẹp và với khối lượng dưới 500 tỷ đồng phiên/hose. Đang có động thái rút tiền từ các nhà đầu tư rút tiền trả nợ cho khoản vay với lãi suất được điều chỉnh lên cao khi mà BDS đã đóng băng. Thị trường có đã có xu hướng đi xuống nếu loại trừ ảnh hưởng của hai mã BVH và MSN đã giúp index duy trì ở mức trên 455 điểm. Nhà đầu tư sẽ khó quay lại thị trường trong thời gian tới nên thị trường sẽ vẫn duy trì giao dịch với khối lượng thấp.

Phân tích kỹ thuật

Hose dãi BBs đang hẹp chờ đợi tín hiệu giảm giá mạnh khi BVH và MSN không còn được nâng đỡ. Báo cáo Stoxx cho rằng ETF đã hết tiền nên khả năng kéo giá BVH và MSN trong thời gian dài rất khó xảy ra. Sàn HNX cho tín hiệu giảm giá rõ ràng hơn khi BBs đã mở rộng và chỉ số HNX đã về mức 83.92. Rất nhiều cơ sở để tin rằng HNX sẽ chạm mức đáy kỷ lục ở 77.5 điểm của năm 2008. Đây cũng là mức hỗ trợ khá mạnh của HNX.

Đề Xuất

Duy trì trang thái tiền mặt lớn và không vội giải ngân khi chưa có tín hiệu vĩ mô rõ ràng. Tâm lý sợ hãi giảm giá vẫn còn nên thị trường chưa thể xác lập đáy rõ ràng. Cần thêm thời gian cho một cơ hội mới

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

3 Giai đoạn của thị trường giảm giá

Thị trường giá xuống (bear market) khi mà các dự báo kinh tế ở dưới mức kỳ vọng. thị trương giá xuống có thể kéo dài vài ngày, vài tuần hoặc thậm chí vài tháng và chả có ai biết được khi nào nó kế thúc. Nhưng nếu bạn chú ý phân tích những biến động thị trường trong quá khứ thì bạn sẽ phát hiện ra thời điểm nó kết thúc. Đó là lý do tại sao tôi muốn đề cập tới 3 giai đoạn của thị trường giá xuống

Giai đoạn 1: tất cả đã kết thúc

giai đoạn này bắt đầu khi thị trường phản ánh những tin xấu mà trước đó nó là tin tốt, nghĩa là nhưng tin tốt không tốt như kỳ vọng. giai đoạn này xả ra khi mọi người nghĩ tin tốt sẽ không bao giờ trở lại hoặc là nhà đầu tư đầu hàng và tuyên bố tất cả đã chấm dứt

Giai đoạn 2: Khuyến cáo về bear market thành phổ biến

giai đoạn này các nhà bình luận thị trường đồng loạt hô hào rằng chúng ta đang ở trong bear market, những luận điều cho rằng sự tăng giá đã quá mạnh và đã kéo dài quá lâu sẽ gửi tới mọi người

sẽ chẳng còn ai quân tâm hoặc quan tâm rất ít tới những chỉ số cơ bản trong giai đoạn này. chỉ số như Dividend yiels, P/E, tốc độ tăng trưởng hoặc những dự báo sẽ không còn được quan tâm nhiều nữa.

Mọi người sẽ được cảnh báo và lời khuyên không mua CP quá nhiều trong giai đoạn này. Đây cũng là lúc chúng ta hay nghe "đầy là thị trường của dân đầu cơ" và sẽ có đầy các chiến lược hành xử trong điều kiện thị trường tăng, giảm hay đi ngang

Giai đoạn 3: Mọi thứ đã sáng sủa, hãy vào ngay đừng chậm trễ

Đầy là giai đoạn cuối, xảy ra khi nhiều người đã quên bear market. CP tăng giá nhưng chưa có những cú tăng giá giât mạnh. sẽ có nhưng sự hoảng loạn sợ trễ tàu đặc biệt là dòng vốn lớn với lý do: 1, trễ cơ hội mua giá thấp, 2, performance sẽ underperform , 3, khách hàng sẽ chuyển tiền đi chỗ khác.

Vì lý do sợ trễ tàu nên các quỹ sẽ mua rất mạnh để có thể cạnh tranh được các quỹ khác. Đây là giai đoạn gặt thành quả cho ai đã dám mua trong giai đoạn này sớm nhất

Vâng, khi dòng tiền lớn đã chảy vào để mua CP thì bạn hãy đứng xem cho tới giai đoạn của thị trường bear mart chuẩn bị bắt đầu nhé


Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Paul Krugman với "Sự trở lại của kinh tế học suy thoái"

Nhà dự báo khủng hoảng tài ba Paul Krugman đã nhận được giải thưởng Nobel kinh tế năm 2008. Tuy đến năm 2008 mới chính thức được Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao giải thưởng giá trị này nhưng trong vòng hơn 10 năm qua, những nghiên cứu của Krugman thực sự rất có giá trị trong lĩnh vực kinh tế học, đặc biệt là những nghiên cứu của ông về khủng hoảng và suy thoái kinh tế trên thế giới. Những nghiên cứu, những phát biểu của Krugman trước năm 2008 có những lúc bị “người ta” “lơ đãng” và “thờ ơ”. Nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính, rồi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra như một bằng chứng khách quan nhất khẳng định tính chính xác và đúng đắn về những tiên đoán của Krugman về vấn đề suy thoái kinh tế.
Là Giáo sư giảng dạy môn thương mại quốc tế và địa kinh tế tại Trường Đại học Princeton và chủ bút mục kinh tế cho tờ Times, trong những năm qua Paul Krugman đã viết rất nhiều sách và các bài báo, bài nhận định, phân tích, phê bình… về những bất ổn của nền kinh tế thế giới với những nguy cơ khủng hoảng và suy thoái tiềm ẩn ngay trong giai đoạn tăng trưởng ấn tượng của kinh tế toàn cầu. Với những sự xem xét, phân tích, đánh giá và so sánh về một cách toàn diện giữa những biến động kinh tế tại các nước và khu vực như Châu Mỹ Latinh, Nhật Bản, Mexico…trong vòng 20 năm qua với cuộc đại suy thoái 1930, Paul Krugman như tiên liệu được về một sự lặp lại của lịch sử suy thoái kinh tế. Và “Sự trở lại của kinh tế học suy thoái’ của Paul Krugman thực sự cần được xem xét nghiêm túc để giúp thế giới vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay.

“Kinh tế học suy thoái” – một khái niệm mới trong kinh tế học?
Kinh tế học suy thoái là một khía cạnh của kinh tế học, là khoa học nghiên cứu về nguyên nhân gây ra thất bại của nền kinh tế và cách thức giải quyết chúng. Biểu hiện của sự thất bại của nền kinh tế ở đây chính là những đợt suy thoái triền miên của nền kinh tế, gây ra những ảnh hưởng mang tính hệ lụy lâu dài đối với sự phát triển mang tính bền vững của một quốc gia, khu vực và cả thế giới.
Vì trước suy thoái kinh tế năm 2008 đã có rất nhiều đợt suy thoái kinh tế (điển hình là cuộc Đại suy thoái 1930) nên thực sự khái niệm “kinh tế học suy thoái” cũng không thực sự quá mới mẻ đối với những ai quan tâm tới kiến thức và sự hiểu biết về suy thoái, về khủng hoảng (như Paul Krugman chẳng hạn). Nó chỉ mới với những ai “thờ ơ” với nguy cơ suy thoái hay khủng hoảng kinh tế hoặc đối với những người đã “ngủ quên” trên những sự tăng trưởng ấn tượng của nền kinh tế toàn cầu trong thời gian vừa qua (khoảng gần 1 thập kỷ trở lại đây, trước cuộc suy thoái kinh tế năm 2008).
Kinh tế học suy thoái chỉ ra rằng sự thất bại về mặt cầu của nền kinh tế là nguyên nhân chính gây ra sự “tắc nghẽn” trong “chu trình vận hành” của một nền kinh tế. “Trở lực” chính là sự thiếu hụt tín dụng của người dân cho tiêu dùng. Việc không có đủ chi tiêu cá nhân sẽ gây ra việc không thể tận dụng hết công suất sản xuất của một nền kinh tế. Năng lực sản xuất lớn, khối lượng sản phẩm được tạo ra nhiều nhưng không được sử dụng sẽ tạo nên cuộc khủng hoảng “thừa”. Như vậy, chính mặt cầu hạn chế đã làm ảnh hưởng tới cung.
Việc phân tích nguyên nhân của suy thoái kinh tế cũng là một cách để phê phán trường phái kinh tế học trọng cung (supply-side economics). Và cuộc suy thoái kinh tế xảy ra lại cung cấp thêm những bằng chứng bác bỏ trường phái này. Từ đó, tạo nên một sự dịch chuyển trong cán cân tranh luận lý thuyết kinh tế học trọng cung và trọng cầu.
Về nguyên tắc, trong dài hạn những sự sụt giảm của tổng cầu sẽ tự điều chỉnh khi có sự thay đổi nhanh chóng của tiền lương và giá cả. Tuy nhiên trên thực tế thì giá cả không giảm nhanh được, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái (nhìn nhận ngắn hạn hơn là dài hạn để giải quyết vấn đề trong suy thoái).

Phương án giải quyết và những vấn đề?

Sẽ có phương án tối ưu chăng?
Như phân tích trên, nguyên nhân dẫn đến suy thoái là do việc thiếu hụt chi tiêu cho tiêu dùng. Do đó để giải quyết vấn đề suy thoái kinh tế nên bắt đầu từ việc cung cấp tín dụng cho tiêu dùng với mục tiêu kích cầu để tận dụng tối đa công suất sản xuất của nền kinh tế. Việc “khơi thông” dòng tín dụng và đẩy mạnh chi tiêu là rất quan trọng để thoát khỏi khủng hoảng.
Trong bối cảnh khủng hoảng, sự thắt chặt tín dụng sẽ “thật điên rồ”! Tuy nhiên phải công nhận rằng không dễ dàng để thực hiện nó cho dù đã biết tính hữu dụng của giải pháp. Sở dĩ như vậy là bởi chúng ta còn phải đối mặt với sự trở lại của làn sóng lạm phát mà trước đó không lâu chúng ta phải “khốn đốn” vì nó. Lại một lần nữa, chúng ta phải đối diện với sự đánh đổi (trade-offs) khi ra quyết định! Và có chăng tâm lý và sự kỳ vọng vào chính sách cũng ảnh hưởng tới quyết định của những nhà hoạch định chính sách trong bối cảnh “nguy khốn”? Bên cạnh đó, “niềm tin trong khủng hoảng” cũng là một yếu tố có thể gây ra việc thắt chặt tín dụng. Người dân và các tổ chức tín dụng không muốn giao dịch trong bối cảnh như vậy khi mà lòng tin của họ về sự an toàn và đảm bảo cho tài sản của họ đã bị suy giảm trầm trọng. Niềm tin hay lòng tin của tập hợp nhiều cá nhân trong xã hội có thể được gọi chung dưới thuật ngữ “vốn xã hội”. Hay nói cách khác suy thoái đã làm cho “vốn xã hội” suy giảm; đến lượt nó, sự suy giảm của “vốn xã hội” sẽ làm cho xác suất xảy ra giao dịch tín dụng giảm (chi phí giao dịch sẽ tăng khi “vốn xã hội” giảm đi); giao dịch tín dụng khó được thực hiện thì nguy cơ về sự “tắc nghẽn” dòng tín dụng là rất lớn. Như vậy, suy thoái kinh tế và nguy cơ khủng hoảng đã xóa đi nguồn vốn tín dụng.

Vậy ai sẽ có vai trò quan trọng trong bối cảnh như thế này?
Sự phản ứng và hành động “khôn ngoan” và kịp thời của chính phủ các nước sẽ là cần thiết. Chính phủ sẽ phải hành động để thực hiện sứ mệnh của một nhà sửa chữa những thất bại của thị trường mà chính nó gây ra cuộc suy thoái hiện tại. Bổ sung thêm vốn và cung cấp tín dụng để đảm bảo cho việc kích cầu sẽ là một “phản ứng chuẩn mực” trong bối cảnh này của chính phủ các nước. Điều quan trọng mà chúng ta quan tâm đó là năng lực để có thể đưa ra được những gói kích cầu phù hợp của mỗi chính phủ. Liệu chính phủ có đủ lượng vốn dự trữ không? Dung lượng của gói kích cầu bao nhiêu là vừa đủ để có thể vừa kích cầu thành công mà không gây áp lực lạm phát trở lại? Đối tượng mục tiê nào sẽ được ưu tiên kích cầu cho từng nền kinh tế gắn với những điều kiện và đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể? Và nhiều vấn đề khác nữa… Tất cả những điều đó sẽ quyết định hiệu quả của chính sách kích cầu!
Ngoài ra, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, khi mà mỗi một nền kinh tế là một mặt xích trong hệ thống toàn cầu và sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng là rất lớn thì việc các nền kinh tế liên kết với nhau trong việc đưa ra các chính sách để đối phó với suy thoái là cần thiết.
Song song với việc kích cầu thì chúng ta cũng nên “lãng quên” phía cung của nền kinh tế để làm sao cho việc chi tiêu cho tiêu dùng cũng tương xứng với khả năng sản xuất để tạo nên những sản phẩm thực cho nền kinh tế. Do đó, việc kiểm soát dòng tín dụng để nó không tạo nên “bong bong thị trường” cũng rất là quan trọng đối với chính phủ các nước. Có ý kiến cho rằng nên thực hiện chi tiêu ở khu vực công vì như vậy vì việc chi tiêu này một mặt sẽ giúp kích cầu các sản phẩm, hàng hóa liên quan; mặt khác sẽ giúp tạo ra những tài sản tương ứng (như cơ sở hạ tầng).

Hệ thống tài chính cần phải được đổi mới để lành mạnh và vững chắc hơn?
Ngày nay, hệ thống tài chính có một vai trò tối quan trọng trong “sự vận hành thông suốt” của một nền kinh tế. Nó được ví như là “huyết mạch” của nền kinh tế. Hệ thống tài chính cùng với hệ thống ngân hàng như là một “sợi dây kiên kết” quan trong giữa khu vực tài chính và khu vực phi tài chính trong một nền kinh tế. Bởi lẽ đó, nếu như có một sự “trục trặc” nào đó ở hệ thống này thì những điều “tồi tệ” không chỉ liên tiếp xảy ra trong khu vực tài chính (sự phá sản của các ngân hàng, các tổ chức và định chế tài chính) mà còn sẽ xảy ra đối với cả nền kinh tế (sự sụp đổ của nền kinh tế), khu vực kinh tế, thậm chí là đối với nền kinh tế toàn cầu khi mà mức độ hội nhập và liên kết giữa các hệ thống tài chính các nước ngày càng tăng. Do đó, việc làm cho hệ thống tài chính càng trở nên minh bạch, lành mạnh, hoạt động an toàn và có hiệu quả là vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Để làm được điều này thì cách thức quản lý của chính phủ đối với hoạt động của các ngân hàng, các tổ chức tài chính và sự luân chuyển dòng vốn giữa chúng là rất quan trọng trong mỗi nền kinh tế. Sự quản lý này cần phải tương ứng với quy mô của hệ thống tài chính, với tốc độ tăng trưởng của hệ thống ngân hàng để có thể kiểm soát kịp thời những vụ “hoảng loạn” ngân hàng do động cơ về mặt lợi ích, lợi nhuận gây ra. Những quy định mang tính bắt buộc được “luật hóa” mà chính phủ đưa ra đối với tất cả chủ thể tham gia trên thị trường tài chính – ngân hàng là rất cần thiết nhằm duy trì một trật tự an toàn cho hệ thống tài chính và cả nền kinh tế. Cần chú ý rằng, những quy định này như những “luật chơi” được thiết kế để tạo ra một thể chế phù hợp mà trên đó hệ thống tài chính được vận hành an toàn, thông suốt và hiệu quả chứ không ngăn cản sự phát triển của hệ thống tài chính hay “bóp méo” thị trường.
Bên cạnh chính phủ các nền kinh tế đưa ra những chính sách quản lý hệ thống tài chính phù hợp cho riêng mình thì việc quản lý toàn cầu hóa hệ thống tài chính cũng là rất quan trọng.

Trong tương lai sẽ còn có những cuộc suy thoái kinh tế mới?
Hiện nay chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế ở các khu vực và toàn cầu đang cố gắng làm tất cả những gì có thể để kinh tế thế giới thoát khỏi khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng 2008 này có trầm trọng như thế nào đi nữa rồi cũng sẽ qua đi. Nhưng quan trọng là sau cuộc khủng hoảng này, người ta (chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế, các chuyên gia kinh tế, các nhà kinh tế học…) sẽ rút ra được những bài học gì cho tương lai về sự hiểu biết và thái độ đối với “kinh tế học suy thoái”.
Thật khó có thể nói trước được là sau sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 sẽ còn có những cuộc suy thoái kinh tế mới hay không? Sự cẩn trọng có cơ sở sẽ luôn cần thiết cho sự an toàn của các nền kinh tế. Điều đó rất có thể lại phụ thuộc vào tư tưởng đương đại về nó. Vì vậy, việc thay đổi tư duy kinh tế, cách nhìn nhận vấn đề kinh tế phù hợp cũng là một điều hữu ích giúp chúng ta phát triển nền kinh tế bền vững.
Xin kết thúc bài viết này với một câu nói rất nổi tiếng của Keynes: “Sớm hay muộn, chính tư tưởng chứ không phải nhóm lợi ích cục bộ sẽ quyết định sự thành bại”.

Tài liệu tham khảo:
N. Gregore Mankiw (1994). Macroeconomics – Second edition. Dịch bởi Nguyễn Văn Ngọc và các tác giả (1996). Hà Nội: Nhà xuất bản Thống Kê.
Paul Krugman (2009). The return of Depression Economics and the crisis of 2008. Dịch bởi Nguyễn Dương Hiếu, Nguyễn Trường Phú, Đặng Nguyễn Hiếu Trung, Nguyễn Ngọc Toàn. TP.HCM: Nhà xuất bản Trẻ.

source: http://www.vneconomist.net/newsdetail.php?f=24&t=265