Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

Ten Economic Questions for 2011

1) House Prices: How much further will house prices fall on the national repeat sales indexes (Case-Shiller, CoreLogic)? Will house prices bottom in 2011?

2) Residential Investment: It appears residential investment (RI) bottomed in 2010, and will probably make a positive contribution to GDP growth in 2011 for the first time since 2005. RI is mostly investment in new single family structures, multifamily structures, home improvement and commissions on existing home sales. Historically RI has been the best leading indicator for the economy, but the growth in RI will probably be modest because of the large overhang of excess housing units. How much will RI grow in 2011?


3) Distressed house sales: Foreclosure activity is very high, although activity has slowed recently - probably because of "foreclosure gate" issues. The number of REOs (Real Estate Owned by lenders) is increasing again, although still below the levels of late 2008. How much will foreclosure activity pick up in 2011? Will the number of REOs peak in 2011 and start to decline?

4) Economic growth: After I took the "over" for 2011 back in November, a number of analysts have upgraded their forecasts. As an example, Goldman Sachs noted Friday:

The US economic outlook for 2011 has improved further with enactment of the fiscal compromise, as well as a stronger trend in recent data. As we forewarned, we are revising up our forecasts to incorporate this news and now expect real GDP to rise 3.4% in 2011 and 3.8% in 2012 (up from 2.7% and 3.6%) ...

It does appear GDP growth will increase in 2011, although GDP growth will probably still be sluggish relative to the slack in the system. How much will the economy grow in 2011?

5) Employment: The U.S. economy added about 87 thousands payroll jobs per month in 2010 through November. This was extremely weak payroll growth for a recovery. How many payroll jobs will be added in 2011?

6) Unemployment Rate: The post-Depression record for consecutive months with the unemployment rate above 9% was 19 months in the early '80s. That record will be broken this month, and it is very possible that the unemployment rate will still be above 9% in December 2011. This high level of unemployment - and the number of long term unemployed - is an economic tragedy. The economy probably needs to add around 125 thousand payroll jobs per month just to keep the unemployment rate from rising (payroll jobs and unemployment rate come from two different surveys, so there is no perfect relationship, and the rate also depends on the participation rate). What will the unemployment rate be in December 2011?

7) State and Local Governments: How much of a drag will state and local budget problems have on economic growth and employment? Will there be any significant muni defaults?

8) Europe and the Euro: What will happen in Europe? When will the next blowup happen? How much of a drag will the problems in Europe have on U.S. growth?

9) Inflation: With all the slack in the system, will the U.S. inflation rate stay below target? Will there be any spillover from rising inflation rates in China and elsewhere?

10) Monetary Policy: Will the Fed expand QE2 (probably not)? Will the Fed reverse any of the Large Scale Asset Purchases? Probably not. Will the Fed raise the Fed Funds rate?

Source: Bloomberg

Three scenarios for 2011

Predictions at this time of year often give the seductive impression of accuracy. Analysts put the standard inputs into their model and disgorge a prediction for indices 12 months hence. They do not even put a confidence interval around those predictions, let alone acknowledge that alternative scenarios exist.

The crisis revealed that such methods lead to overconfidence. It is better to acknowledge uncertainty. It makes more sense to look at likely scenarios and the rough probabilities that they will occur. Here, then, are three plausible scenarios for 2011.

The Crab: markets carry on as they did in 2010, undulating in response to the latest economic news. Exceptional stimulus from governments and resilient demand from China allows a continued slow and messy recovery from the crisis; the weight of continuing corporate and household deleveraging, the weak US housing market plus the threat of tighter monetary policy if sustainable growth appears on the horizon puts a lid on gains. Chances: about 70 per cent.

Disaster: Bond markets refuse to finance the US deficit and drive an existential crisis in the eurozone. With government credit ratings no longer effective in shoring up the creditworthiness of US and European banks, asset prices plumb depths not seen in 2008-09. China lands hard. Chances: maybe as high as 20 per cent.

Lift-off: US consumers start spending, China moves on serenely and investors get into the market. As companies spend their cash, equities enjoy a big rally. Everyone is happy except bond investors. Chances: about 10 per cent.

The critical variables are the US bond market and the Chinese economy. If both stay out of trouble, disaster is off the table. Rising US deal volumes and house prices might signal a true lift-off. Without these, expect the crab – which means another year leaping between asset classes in response to new information. Markets stay correlated, there is money for those who time the swings in sentiment, and nobody gets hurt too badly.

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010

PHÁ GIÁ TIỀN TỆ VÀ DỰ BÁO CỦA HSBC!

Báo cáo đầu tháng 12 của HSBC cho rằng áp lực phá giá VND đang gia tăng mà nó bắt nguồn từ 3 nguyên nhân lớn:

1) Khả năng trả nợ Vinashin
2)Tăng thuế XK vàng lên 10% áp dụng từ 01/01/2010
3) Chênh lệch khá lớn giữa tỷ giá ngân hàng vào chợ đen

sự việc trì hoãn nợ hay tuyên bố của CP Việt nam về việc không can thiệp vào việc trả nợ cho VNS làm dấy lên lo ngại của giới tài chính quốc tế về bất ổn vĩ mô của Việt Nam. Sự việc này cho thấy dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang ở mức thấp. HSBC tin rằng mặc dù VNS có trả được nợ đi nữa thì cũng khó cải thiện lòng tin của lenders đối với thị trường này. Cùng lúc đó, việc tăng thuế đối với XK vàng ám chỉ sự lo ngại của chính phủ đối với tác động tiềm tàng của thị trường vàng lên thị trường ngoại hối.

HSBC cũng đã từng vài lần đề cập tới áp lực phá giá VND và chi ra rằng việc giữ ổn định tỷ giá chẳng có tác động đáng kể nào lên những lý do cơ bản mà nó làm VND yếu đi như là thâm hụt thương mại và lạm phát quá cao như số liệu vừa được công bố lên tới hai con số. Ngoài ra, chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và chợ đen cũng tạo áp lực phá giá VND.

Ngoài nhửng yếu tố cơ bản vừa nêu, chúng ta cũng cần xem xét thêm vài yếu tố liên quan đến chính trị. Đầu tiên là đại hôi đảng sẽ được tổ chức vào tháng 1/2011 và những động thái gần nhất của CP dường như phát đi thông điệp rằng khó có chuyện phá giá xảy ra trước sự kiện ĐHĐ. Thứ hai, CP cũng dứt khoát ám chỉ rằng không có chuyện phá giá trước tết âm lịch vào tháng 2. Rõ ràng là việc phá giá quá sớm có thể làm giảm lòng tin của nhà đầu tư rất nhiều và giới doanh nghiệp. Báo cáo gần đây cho thấy nhà đầu tư trong nước đang găm vàng và USD, vì thế nếu việc phá giá làm tổn thương lòng tin của doanh nghiệp thì nó có khả năng làm tăng áp lực phá giá tiền tệ trong tương lai.

PHÁ GIÁ TIỀN TỆ

Định nghĩa phá giá tiền tệ

Phá giá tiền tệ là việc giảm giá trị của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ so với mức mà chính phủ đã cam kết duy trì trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Trong đó, tỷ giá hoái đối cố định được hiểu là tỷ giá hối đoái neo hay là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Việc phá giá VND nghĩa là giảm giá trị của nó so với các ngoại tệ khác như USD, EUR...

Nhiều quan điểm cho rằng tỷ giá hối đoái cố định quá cứng nhắc nên che mất những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng. Đó là vì đồng tiền không còn thể hiện giá trị thị trường thực của chúng. Sự che đậy thông tin nào tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ "tấn công" các đồng tiền cố định và nhiều nước sẽ mất sạch cả dự trữ ngoại hối khi cố gắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá. Thái Lan trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á là một trường hợp như vậy

Nguyên nhân của việc phá giá tiền tệ:

  • Nên tảng vĩ mô yếu kém: liên quan đến việc điều hành kinh tế yếu kém dẫn tới lạm phát cao, mất cân đối cán cân thanh toán (thâm hụt thương mại cao)

· Các dòng vốn nước ngoài kéo vào: Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức. Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á.Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro.

· Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt: yếu kém về vĩ mô và nghịch lý chính sách tiền tệ tạo điều kiện để xảy ra các cuộc tấn công của nhà đầu cơ

Ảnh hưởng phá giá tiền tệ đối với nền kinh tế

Trong ngắn hạn

Khi giá cả và tiền lương tương đối cứng nhắc thì ngay lập tức việc phá giá tiền tệ sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thực tế thay đổi theo, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và có xu hướng làm tăng xuất khẩu ròng vì hàng xuất khẩu rẻ đi một cách tương đối trên thị trường quốc tế còn hàng nhập khẩu đắt lên tương đối tại thị trường nội địa. Tuy vậy có những yếu tố làm cho xu hướng này không phát huy tức thì: các hợp đồng đã thoả thuận trên cơ sở tỷ giá cũ, người mua cần có thời gian để điều chỉnh hành vi trước mức giá mới và quan trọng hơn là việc dồn các nguồn lực vào và tổ chức sản xuất không thể tiến hành nhanh chóng được. Như vậy trong ngắn hạn thì số lượng hàng xuất khẩu không tăng mạnh và số lượng hàng nhập khẩu không giảm mạnh. Nếu giá hàng xuất khẩu ở trong nước cứng nhắc thì kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng không nhiều đồng thời giá hàng nhập khẩu tính theo nội tệ sẽ tăng lên do tỷ giá đã thay đổi dẫn đến cán cân thanh toán vãng lai có thể xấu đi.

Trong trung hạn

GDP hay chính là tổng cầu gồm các thành tố chi cho tiêu dùng của dân cư, chi cho đầu tư, chi cho mua hàng của chính phủ và xuất khẩu ròng. Việc phá giá làm tăng cầu về xuất khẩu ròng và tổng cung sẽ điều chỉnh như sau:

  • Nếu nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực nhàn rỗi sẽ được huy động và làm tăng tổng cung.
  • Nếu nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực không thể huy động thêm nhiều và do đó tổng cung cũng chỉ tăng lên rất ít dẫn đến việc tăng tổng cầu kéo theo giá cả, tiền lương tăng theo và triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của việc phá giá. Vì thế trong trường hợp này, muốn duy trì lợi thế cạnh tranh và đạt mục tiêu tăng xuất ròng thì chính phủ phải sử dụng chính sách tài chính thắt chặt (tăng thuế hoặc giảm mua hàng của chính phủ) để tổng cầu không tăng nhằm ngăn chặn sự tăng lên của giá cả trong nước.

Trong dài hạn

Nếu như trong trung hạn, phá giá tiền tệ kèm theo chính sách tài chính thắt chặt có thể triệt tiêu được áp lực tăng giá trong nước thì trong dài hạn các yếu tố từ phía cung sẽ tạo ra áp lực tăng giá. Hàng nhập khẩu trở nên đắt tương đối và các doanh nghiệp sử dụng đầu vào nhập khẩu sẽ có chi phí sản xuất tăng lên dẫn đến phải tăng giá; người dân tiêu dùng hàng nhập khẩu với giá cao hơn sẽ yêu cầu tăng lương và gây áp lực làm cho tiền lương tăng. Cuối cùng việc tăng giá cả và tiền lương trong nước vẫn triệt tiêu lợi thế cạnh tranh do phá giá. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy lợi thế cạnh tranh do phá giá bị triệt tiêu trong vòng từ 4 đến 5 năm.

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

Số lượng bond đáo hạn đạt kỷ lục trong 2012

According to our statistics, total volume of government bond coming to maturity will reach a peak during the period of 2010-2013, with the highest level estimated for 2012. Total volume of corporate bond coming to maturity will experience highest increase in 2011 and 2012


Implication


In spite of a strong rise in the volume of government bonds coming into maturity, new is suance of government

bond also esc alates s ignificantly in 2010: 97,000bn VND YTD against 41,000bn of bonds coming to maturity in

2010. This is also 9 times higher than the volume of newly-issued government bond in 2009.

Most of newly-issued government bonds in 2010 were carried out in May and June when interest rate stayed at

lower level than last months of the year. After such large volume of new issuance, Ministry of Finance seems to

have no further demand for bond issuance, especially at high interest rate level currently: While interest rate

continues to keep at high level, ceiling rate of Governmental bonds has decreased recently (lower than the

market transaction rate).

Short-term impact: Those bank s that bought large amount of government bonds in May and June have later on

used those bonds to repo on the OMO. However as the amount of cash pumped out through OMO is limited

and based on bidding mechanism, this may drain those banks liquidity at certain point of time.

Long-term impact: According to the above figures, owing to the large issuance of bonds at relatively low interest

rate in 2010,

the Ministry of Finance may not be under the pressure of new bond issuance, especially in

1H2011. According to the current plan passed by the National Assembly, the Government will issue 45,000bn

VND worth of bonds in 2011. Hence, we think that the possibility of competition between government bond and

funding to private sector is limited and government bonds are expected not to absorb too much capital of banks

in 2011.

However, the

amount of corporate bonds coming to maturity will also increase strongly in 2011 and

2012

. This will be an alert for those companies with weak cash flow and bus iness as they will need capital to

pay back the bond and continue to compete in capital mobilization in the two coming years.










Việt nam đang đối mặt nguy cơ mới về kinh tế đối với Trung quốc

Với việc điều hành kinh tế theo hướng siết chặt của trung quốc thì nhiều khả năng việt nam đang đối mặt với nguy cơ nhập khẩu lạm phát trong 2011. Bài viết sau thể hiện con số thâm hụt thương mại kinh khủng của việt nam và trung quốc qua 10 năm

(VEF) - Nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam đã lập “kỷ lục” chóng mặt: ước 12,6 tỷ USD, bằng tới 105% tổng mức nhập siêu của Việt Nam trong năm 2010. Điều gì sẽ xảy ra khi Việt Nam quá phụ thuộc vào một thị trường như vậy?

LTS: Nhập siêu có thể là chuyện "bình thường" khi nền sản xuất Việt Nam vẫn còn yếu kém và nhu cầu cho tăng trưởng lại rất lớn. Trong thời toàn cầu hóa, khi nền kinh tế hội nhập sâu rộng thì việc Việt Nam "phụ thuộc" vào một số nước lớn có thể là dễ hiểu. Nhưng, sẽ là không bình thường, khi mức phụ thuộc đó quá lớn, quá tập trung ở một quốc gia: Trung Quốc.

Độc giả hãy chia sẻ ý kiến về câu chuyện này qua hòm thư: vef@vietnamnet.vn. Xin trân trọng cảm ơn!

Bóng" nhập khẩu từ Trung Quốc phình to

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên khi giới thiệu về thị trường Trung Quốc với các doanh nghiệp hồi năm ngoái, đã đau lòng thừa nhận rằng, mất cân bằng cán cân thương mại là vấn đề nội cộm nhất trong quan hệ thương mại với láng giềng.

3 năm gần đây, xuất khẩu của ta sang Trung Quốc tăng trưởng nhanh hơn mục tiêu đề ra, mỗi năm “lớn” thêm 500 triệu - 1,2 tỷ USD, nhưng không bù nổi cho “nhập khẩu” tăng 3-3,5 tỷ USD/năm từ thị trường này.

Xuất khẩu vẫn hụt hơi, “chạy" lẹt đẹt theo sau nhập khẩu từ nước bạn. Khoảng cách hai chiều thương mại ngày một “giãn rộng” và cái bóng nhập khẩu từ Trung Quốc đến nay, đã “to” gấp 3 lần xuất khẩu của Việt Nam sang nước này.

Năm 2007, nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam là 9,145 tỷ USD, bằng 64% tổng mức nhập siêu cả năm, năm 2008, đó là con số 11,16 tỷ USD và tỷ lệ là 61%. Năm 2009, con số này đã tăng tiếp lên 11,532 tỷ USD, bằng 90% tổng nhập siêu cả năm, được cho là mức báo động.

Nhưng năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc cao “ngất ngưởng” và đã nâng lên mức báo động đỏ: ước 12,6 tỷ USD, bằng 105% mức nhập siêu cả năm (12 tỷ USD) của Việt Nam.

Công nhân Trung Quốc trên công trường dự án bauxite Tân Rai (Lâm Đồng)
(ảnh: Phạm Huyền)

Có thể nói rằng, nếu so với kế hoạch và đề án phát triển xuất nhập khẩu với Trung Quốc giai đoạn 2007-2015 mà Bộ Công Thương vạch ra từ năm 2007, chúng ta đã thất bại trong mục tiêu rút ngắn khoảng mất cân bằng cán cân thương mại với nước láng giềng khổng lồ này.

TS. Nguyễn Minh Phong, Viện Phát triển kinh tế xã hội Hà Nội, gọi đây là tình trạng báo động cấp 3 và rất... nguy hiểm. Nhập siêu quá lớn như vậy sẽ làm nặng thêm sự mất cân bằng cán cân thanh toán của Việt Nam.

Bị hút quá sâu vào một nền kinh tế

Nếu nhìn lại suốt một chiều dài hơn 20 năm mở cửa, đổi mới, đã có nhiều điều “đáng tiếc” cho Việt Nam.

Hồi trước năm 1991, Việt Nam chủ yếu quan hệ thương mại với Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, thông qua Hội động tương trợ kinh tế (khối SEV).

Sau khi các nước xã hội chủ nghĩa khu vực này sụp đổ, Việt Nam đã chuyển hướng thương mại sang các quốc gia khác như cộng đồng EU, Mỹ, Úc, Canada, các nước ASEAN, các nền kinh tế Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… Hàng loạt các cam kết quốc tế đã được ký kết như FTA, WTO, AFTA..

Và trong sự “chuyển hướng” hội nhập này, thật đáng buồn rằng, nhập siêu ngày càng lớn và trở thành căn bệnh trầm kha suốt 18 năm nay. Trong một cục diện thương mại quá nghiêng về phía bên ngoài đó, Việt Nam lại “bị hút” quá sâu vào một nền kinh tế là Trung Quốc.

Năm 2000, thặng dư thương mại với Trung Quốc của ta là 135 triệu USD thì năm 2001, cán cân thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc đã chuyển sang thâm hụt 200 triệu USD.

Và cứ thế, 10 năm qua, nhập khẩu từ Trung Quốc ngày càng tăng với tốc độ chóng mặt. Giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, nhưng đến giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng này đã tăng vọt lên 13,4%.

Kể từ năm 2004, bức tranh thương mại 2 chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc cực kỳ hưng thịnh nhưng là hướng có lợi cho Trung Quốc. Hàng hóa Trung Quốc tiếp tục lấn át và đánh bật hàng hóa các nước khác trên thị trường Việt Nam. Điều đó kéo theo, mức tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tăng “ngoài sức tưởng tượng”, từ 19,8% năm 2008 vọt lên 25% năm 2009.

Ước năm 2010 này, Việt Nam “mất” 19 tỷ USD để mua hàng từ người láng giềng này, chiếm tới 23% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước trong khi, chỉ thu về được 6,4 tỷ USD.

Sự thiên lệch bất thường càng thấy rõ, khi Việt Nam có quan hệ ngoại thương với gần 200 nước và vùng lãnh thổ nhưng chỉ một nước Trung Quốc, đã “cung cấp” tới ¼ “đầu vào” cho nền kinh tế Việt Nam.

Diễn biến này cho thấy, sức ảnh hưởng của Trung Quốc đối với nền kinh tế Việt Nam đã mạnh hơn cả ASEAN (chỉ chiếm tỷ trọng 18,9%), hơn EU (chiếm7,2% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam).

"Made in China" trong thức ăn, nước uống hàng ngày

Không khó lý giải cho việc chúng ta nhập siêu từ Trung Quốc. Vì 5 năm trước, không ai tưởng tượng được rằng, Trung Quốc đã vượt cả Nhật Bản để trở thành anh khổng lồ thứ 2 của kinh tế toàn cầu.

Nhưng, mục tiêu “lấy lại thăng bằng” với thương mại Trung Quốc đã ngày một xa vời khi cơ cấu xuất khẩu của ta sang Trung Quốc vẫn “chậm tiến”.

Đồ chơi Trung Quốc thống lĩnh thị trường Việt Nam (ảnh: theo Tuanvietnam)

Hồi cuối năm 2009, thống kê từ Bộ Công Thương cho thấy, chúng ta xuất sang Trung Quốc nguyên nhiên liệu khoáng sản chiếm 55% kim ngạch xuất khẩu chung, trong đó, chủ yếu là than đá, cao su, dầu thô. Năm 2011-2012, chúng ta còn “xuất” cho Trung Quốc cả alumin ở dự án bauxite Tây Nguyên.

Tuy nhiên, việc xuất khẩu nhóm hàng này đã và đang phải giảm để đảm bảo an ninh năng lượng. Riêng năm 2009, nhóm dầu thô phải giảm 24%. Năm 2010, than xuất cho Trung Quốc phải giảm tới 50% so với năm 2009.

Bù lại cho sự sụt giảm này, chúng ta chỉ có nông sản, thủy sản và công nghiệp. Nhưng, nông lập và thủy sản chỉ chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu của ta sang Trung Quốc và vẫn chủ yếu là hàng nguyên liệu và sơ chế như trái cây, cao su, caphê, tiêu, không có giá trị lớn. Nhóm hàng công nghiệp chỉ chiếm có 10% trong giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc và sức cạnh tranh còn kém.

Dù 2 nhóm này có tăng mạnh về lượng, nhưng giá trị không cao thì thật khó bù đắp lại sự giảm sút nhóm xuất khẩu nguyên nhiên liệu khoáng sản sang Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc thật khéo léo trong đối ngoại, trong chính sách khuyến khích xuất khẩu và cung cấp cho chúng ta toàn thứ hàng hóa thiết yếu như máy móc, linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu và cả hàng tiêu dùng giản đơn trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, như quần áo, đồ chơi, giày dép, và cả tăm tre. Trong khát khao lớn mạnh, trưởng thành của nền kinh tế Việt Nam thì lạ thay, những thứ “made in China” đã bỗng dưng biến thành thức ăn, nước uống.

Trong 5 nhóm hàng mà Việt Nam nhập nhiều nhất là thiết bị máy móc phụ tùng, xăng dầu, sắt thép, phân bón nguyên phụ liệu dệt may thì Trung Quốc đều có tên ở vị trí thứ 1 đến 5.

So với nhu cầu nhập khẩu, năm 2010, chúng ta nhập từ Trung Quốc tới 56% sắt thép, 40% phân bón, 70% nguyên phụ liệu dệt may, 37% vải, 17,7% xăng dầu, 27% phụ tùng, máy móc, thiết bị, 28% máy tính, linh kiện... Nếu nguồn cung từ anh khổng lồ này bị hắt hơi, sổ mũi thì ngay lập tức, thị trường nội địa của Việt Nam và cả chuyện xuất khẩu sang Mỹ, EU của ta cũng sẽ bị vạ lây.

Tuy nhiên, danh mục hàng hóa mà Việt Nam phụ thuộc Trung Quốc ngày càng trở nên nhạy cảm hơn, và có mối ràng buộc khăng khít sâu sắc tới huyết mạch của kinh tế.

Dễ nhìn thấy nhất, đó là điện! Hiện nay, Việt Nam đang có chủ trương tăng cường mua điện của Trung Quốc, với mức 4% nhu cầu điện cả nước. Hồi nửa đầu năm nay, thiếu điện do thủy điện sụt giảm, đã khiến cho mỗi một kWh từ Trung Quốc truyền tải về trở nên thật quí giá! Kết quả đó có được là nhờ Tập đoàn Điện lực Việt Nam phải vất vả, gian nan để đàm phán mua điện từ láng giềng.

Dễ nhìn thấy thứ 2 là máy móc, thiết bị Trung Quốc đang tràn ngập các dự án công nghiệp của Việt Nam. Từ ngành nhựa với các loại khuôn mẫu…, ngành rượu bia nước giải khát, ngành dệt may, ngành thép…

Đặc biệt, 90% công nghệ thiết bị nhiệt điện là từ Trung Quốc nhưng vấn đề chất lượng thì không hề tin cậy. Gần đây, ta còn nhập thêm của Trung Quốc công nghệ sản xuất alumin ở dự án bauxite Tây Nguyên.

Việt Nam vẫn phải phụ thuộc tới hơn 91% nguyên vật liệu, máy móc từ bên ngoài. Thật rủi ro khôn lường khi nhà cung cấp láng giềng “khó khăn” thì chất lượng công nghiệp hóa của Việt Nam cũng lãnh hậu quả.

Với cục diện này, bao giờ Việt Nam thu hẹp lại nhập siêu từ Trung Quốc? Nếu không có sự quyết liệt và cải cách chiến lược xuất nhập khẩu sớm, chúng ta không những lún sâu vào nhập siêu mà còn phải trả giá đắt nếu nhập siêu đó là không an toàn, không chất lượng!

Nhận định thị trường tuần 3 tháng 12!

Nhận định thị trường tuần 3 tháng 12.

Thị trường liên ngân hàng tuần qua bình ổn với mức lãi suất dao động mức 12-13% thể hiện thanh khoản của các ngân hàng tương đối ổn định. SBV tiếp tục quan điểm thắt chặt tiền tệ khi tiếp tục hút tiền về qua OMO đồng thời tăng lãi suất cho vay lên 10%. Có vẻ như áp lực đối với thanh khoản các ngân hàng từ giờ tới cuối năm sẽ giảm đi do áp lực chạy đua huy động để đáp ứng trạng thái mà các ngân hàng báo cáo cho SBV cuối năm cho tuần cuối cùng còn lại của năm sẽ không lớn và vì thế sẽ khó có biến động về lãi suất interbank cho tuần cuối cùng này.

Tạm bỏ qua tình hình ngân hàng năm 2010, tôi xin bàn về tình hình lãi suất và xu hướng biến động của nó cho đầu năm 2011. Tôi xin nhắc lại quan điểm cá nhân về lý do làm lãi suất tăng trong thời gian qua của tuần trước:

  • Thứ nhất, lâu nay các ngân hàng đang luôn bị động về thanh khoản do thực chất phần lớn các khoản tiền gửi VND của khách hàng tại ngân hàng là không kỳ hạn và kỳ hạn rất ngắn. Cộng thêm vào đó là sức ép của các tỷ lệ đảm bảo an toàn cuối năm và vốn giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã ký.

  • Thứ hai, thị trường liên ngân hàng vẫn chưa có biện pháp bình ổn, lãi suất thị trường này gây sức ép tăng lên thị trường vốn dân cư và tổ chức khác. Một khi lãi suất thị trường liên ngân hàng đã lên đến 25% thì các ngân hàng có tăng lãi suất huy động lên 19% vẫn rẻ hơn.

Lý giải về lý do thứ 2, tôi có xem qua bài nói về vòng luẩn quẩn của vòng lãi suất của anh Hào mà anh có đề cập tới cái gọi là “đồng tiền rẻ độc quyền” của các ngân hàng vị thế lớn đã gây ra tình trạng lãi suất cao trên thị trường và đề xuất của anh là SBV nên

.

Liệu SBV sẽ phản ứng ra sao?

“Đồng tiền rẻ độc quyền”: theo cách hiểu của tôi đồng tiền rẻ độc quyền về cơ bản khó có khả năng xảy ra trừ phi ngân hàng thương mại nào đó đang có khó khăn về thanh khoản và phải chứng minh được với SBV mới có khả năng vay được mức lãi suất chiết khấu thấp hơn trên OMO. Chính vì thế, tôi cho rằng lãi suất có lẽ không tuân theo quan điểm này cho lắm. Bàn về hai giải pháp của Anh hào, tôi cho rằng quan điểm thứ hai khá phù hợp. Hiện tượng lãi suất tăng cao do thanh khoản của các Ngân hàng đang có vấn đề và vì thế những ngân hàng nào dự báo tốt có thể lợi dụng ls trên OMO từ 8%-8.75% để tăng vị thế tiền và có thể có reward khi tính thanh khoản của hệ thống ớ mức yếu với gap khá cao thời gian của interbank. Mặt khác, nhiều quan điểm cho rằng do CP chủ trưởng siết chặt tiền tệ thì LS sẽ cao để hạ lạm phát, tôi cho rằng cái vấn đề ở đây là ý chí của các banks lớn muốn ép các banks bé nên không đẩy tiền cho các producers. Từ tình huống này việc nâng lãi suất cao trên OMO sẽ giảm cung tiền qua OMO và bài toán có thể sẽ giải quyết được bài toán và qua đó sẽ giải quyết luôn lý do số 1 của tôi.==> SBV sẽ tiếp tục tăng LS trên OMO.

Thị trường vàng và ngoại tệ: Thị trường vàng theo như nhận định hai tuần trước của tôi là sẽ khó có biến động lớn cho đến hết năm do không co sự kiện nào có ảnh hưởng lớn từ hai khu vực Mỹ và Châu âu. Tuy nhiên kênh đầu tư này sẽ tiếp tục hấp dẫn trong nằm 2011 và chúng ta sẽ tiếp tục theo dõi xem cuộc chiến tiền tệ giữa các nước lớn trong thời gian tới. Một số dự báo của các nhà môi giới lớn cho rằng vàng sẽ đạt mốc 1800 USD-2000USD/ounce. Cộng hưởng với dự đoán của tôi về phá giá VND trong quý I năm 2011, hai kênh này sẽ vẫn hút tiền khá nhiều trừ khi có sự đột biến trên TTCK Việt Nam.

Các sự kiện đề xuất theo dõi cho tuần tới:

  • Khả năng xử lý nợ của Vinashin ( who pay?) => cost funding
  • Liệu có hay không làn song bán CP sau sự kiện bị hạ tín nhiệm
  • Ảnh hưởng của tiền sẽ được rút ra chi tiêu của kho bạc và doanh nghiệp => CPI
  • Thông tin sơ bộ về tình hình kinh doanh của các Blue chips.

Tóm lại, với những phân tích trên tôi cho rằng tình hình thị trường sẽ tiếp tục khó khăn trong những tháng đầu năm mới. Tuy nhiên đây cũng chính là thời điểm cần thiết để chúng ta có thể cân nhắc xem xét tích lũy những CP tốt.

Phân tích kỹ thuật cho tuần

MFI : xu hướng giảm

RSI: xu hướng giảm

MACD: xu hướng giảm và sẽ trigger giảm nhiều tuần nếu index lủng 470.

Tuần này model EMAV của tôi cho tín hiệu bán ngày hôm nay (23/12) và nếu ngày mai 24/12 nếu index không phục hồi mạnh thì cơ hội bán giá tốt sẽ bị trôi qua. Theo tín hiệu mấy lần trước mà tôi quan sát model EMAV thì khả năng index có thể giảm từ điểm bán này sẽ vào khoảng 10-15%. Vì thế, tôi đề xuất nên bán CP nếu phiên ngày mai index không phục hồi trên 10 điểm.