Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Định vị Việt Nam trong dòng chảy biến ảo của thế giới

Những gì diễn ra trong năm 2010 trong cuộc cạnh tranh địa-chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc tại châu Á-Thái Bình Dương có thể mới chỉ là khúc dạo đầu của một quá trình lâu dài đầy biến số.

LTS: Sự kiện chính trị được đón chờ nhất trong năm 2011 - Đại hội Đảng XI - sẽ khai mạc ngày mai. Đây là Đại hội có vai trò và sứ mệnh lịch sử to lớn: đại hội mở đầu cho thập niên thứ 2 của thế kỷ 21. Tại đại hội này, căn cứ tình hình trong nước và quốc tế Đảng sẽ thảo luận và quyết định các văn kiện quan trọng như Cương lĩnh, Báo cáo chính trị và Chiến lược phát triển đất nước 10 năm tới.

Hơn lúc nào hết, việc quan tâm, phân tích thấu đáo để nắm bắt được những xu hướng, vận động phức tạp của thế giới hiện nay, để từ đó định vị tầm nhìn và hướng đi của Việt Nam trở thành vấn đề mang tính sống còn. Một đất nước sẽ phát triển nhanh nếu biết nương vào dòng chảy thời đại để đi lên. Ngược lại, nếu hiểu sai và bị gạt ra lề quỹ đạo vận động của thế giới, đất nước sẽ phải trả giá bằng sự tụt hậu, thậm chí là nguy cơ lệ thuộc.

Bài viết dưới đây của TS Nguyễn Ngọc Trường, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mexico và Thụy Điển góp thêm một góc nhìn, một kiến giải về chủ đề nóng này.

Xem thêm: Trước cuộc đại mặc cả Trung - Mỹ

Sự suy yếu tương đối của Mỹ và phương Tây

Đối với lịch sử thế giới hậu Chiến tranh lạnh, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008-2010 là cột mốc quan trọng đánh dấu bước ngoặt. 15/9/2008 - ngày Lehman Brothers phá sản - được xem là điểm kết thúc thời kỳ đó. Cuộc khủng hoảng cơ cấu tại nhiều nước công nghiêp phát triển giáng đòn nặng nề vào thành lũy đặc biệt của chủ nghĩa tư bản là hệ thống ngân hàng và kinh doanh tiền tệ. Nhiều nền kinh tế hùng mạnh phương Tây tụt hạng vĩnh viễn trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.

Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản đương đầu với tình trạng trì trệ kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp cao và dai dẳng. "Phương Tây" - theo quan niệm địa lý truyền thống bao gồm châu Âu, Bắc Mỹ, Ôxtrâylia và Niu Dilân - không còn là nơi hội tụ duy nhất sức mạnh toàn cầu. Và hiện tượng biểu trưng cho sự suy thoái quyền lực phương Tây chính là việc nhóm G-7 trở nên lỗi thời.

Sự suy yếu của thế giới phương Tây cùng sự lên ngôi của châu Á kéo theo nhiều hệ lụy. Sức cám dỗ của mô hình phương Tây bị suy yếu thúc đẩy quá trình phi phương Tây hóa tại hầu hết các khu vực trên thế giới. Khoảng cách công nghệ giữa phương Tây và phương Đông thu hẹp nhanh chóng. Trung Quốc, Ấn Độ, cùng nhiều nước châu Á khác, đã đưa thêm hàng trăm triệu công nhân mới vào thị trường lao động toàn cầu, tạo ra cùng những sản phẩm và dịch vụ như phương Tây, nhưng với giá thành cực thấp.

Làn sóng chuyển việc làm ra nước ngoài hiện quá lớn, quá nhanh đến mức các xã hội phương Tây đang phải điều chỉnh chật vật. Các tầng lớp công nhân cổ xanh và cổ trắng tại các nước này sẽ còn phải chịu những hy sinh đau đớn. Đời sống sẽ thay đổi; lối sống khá giả sẽ thay bằng thắt lưng buộc bụng.

Phương Tây đang mất dần niềm tin vào tư tưởng tự do thương mại và khả năng cạnh tranh kinh tế của họ. Các thành tố của pháo đài bảo hộ bắt đầu được dựng lên, vì chỉ có những nền kinh tế mạnh, có sức cạnh tranh mới cổ vũ tự do thương mại. Người tiêu dùng vốn thực dụng. Họ ít khi mua hàng sản xuất nội địa chỉ vì lòng yêu nước. Kêu gọi "người Mỹ mua hàng Mỹ", "người Nhật mua hàng Nhật", "người Indonesia mua hàng Indonesia" hay "người Việt Nam mua hàng Việt Nam" nếu không đi kèm với đổi mới công nghệ, cải tiến sản xuất để tạo ra hàng hóa chất lượng cao, nhưng giá cả phải chăng, sẽ chỉ là những khẩu hiệu dân túy trống rỗng. Người Việt Nam đã cảm nhận được chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch khi các con cá basa và cá tra hay các loại giày "Made in Vietnam" trở thành nạn nhân thường xuyên hơn của các vụ "trừng phạt" thương mại kiểu này hay kiểu khác.

Lính Mỹ ở Iraq
Trên lĩnh vực quân sự, hai cuộc phiêu lưu của Mỹ trong thập kỷ vừa qua là những sai lầm tai hại đối với Mỹ và NATO. Bộ máy quân sự Mỹ thực hiện các cuộc chiến tranh này theo quán tính và nỗi ám ảnh khủng bố quốc tế từ sau sự kiện 11/9/2001.

Cuộc xâm lược Iraq ngày 20/3/2003 đã chia rẽ nước Mỹ và giữa Mỹ với nhiều quốc gia khác, tạo cơ hội cho các đối thủ của Mỹ triển khai những lợi ích của họ một cách quả quyết mà không lo ngại phản ứng quân sự của Mỹ.

Cuộc chiến tranh ở Afghanistan có thể đã sớm kết thúc nếu Mỹ không chuyển nguồn lực và sự chú ý sang cuộc chiến tranh Iraq. Khi bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ này, người Mỹ dường như đã cố loại cuộc chiến tranh Iraq ra khỏi bộ nhớ của mình.

Đồng thời theo cuộc thăm dò dư luận do CNN/Opinion Research Corporation công bố ngày 30/12/2010, 63% số người Mỹ được hỏi ý kiến đã quay lưng lại với cuộc chiến tranh Afghanistan vào thời điểm quyết định thành bại của nó. Chi phí khổng lồ cho hai cuộc chiến tranh vô bổ này đã góp phần làm trầm trọng thêm các vấn đề của nước Mỹ, tạo nên cuộc khủng hoảng kép mà chính quyền Obama đang phải nai lưng ghánh vác. Iraq và Afghanistan có thể là những cuộc chiến tranh chiếm đóng theo chủ nghĩa đơn phương cuối cùng của nước Mỹ, ít nhất trong khoảng thời gian mà người đương thời chúng ta có thể chứng kiến.

Sự trỗi dậy vượt dự đoán của Trung Quốc

Về mặt địa-kinh tế, Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới. Sau khi đã vượt Pháp, Anh và Đức nhờ mức tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 10%/năm trong hai thập kỷ, từ quý III-2010, Trung Quốc đã chiếm ngôi vị á quân kinh tế của Nhật Bản xét về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Năm 1978, Trung Quốc chỉ sản xuất chừng vài nghìn máy điều hoà nhiệt độ, hiện nay sản xuất gần 50 triệu đơn vị/năm. Trung Quốc còn sản xuất 50% tổng số lò vi sóng, 1/3 số máy thu hình, 70% tổng sản lượng đồ chơi trẻ em và 60% tổng sản lượng xe đạp trên toàn thế giới. Ngày nay châu Á-Thái Bình Dương chiếm 36% tỷ trọng kinh tế toàn cầu. Châu Âu đứng thứ hai và Bắc Mỹ thứ ba.

Cứ đà này, thế kỷ XXI sẽ chứng kiến việc Mỹ chật vật tìm cách giữ ngôi vị quán quân kinh tế thế giới, trước sự đua tranh quyết liệt của Trung Quốc và Nhật Bản khó mà giữ được ngôi vị thứ ba, có thể phải nhường nó cho Ấn Độ.

Từ năm 1980, khoảng 400 triệu người Trung Quốc đã thoát nghèo. Tới năm 2030, tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc dự kiến sẽ tăng thành 600 triệu người. Đây là lực lượng trung lưu lớn nhất thế giới, chiếm 1/3 thị trường tiêu thụ toàn cầu. Ấn Độ sẽ góp vào thị trường tiêu thụ này 520 triệu người thuộc tầng lớp trung lưu. 1,5 tỷ người có khả năng tiêu thụ khá sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới với quy mô mới.

Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới.Ảnh: Nytimes

Về địa-chính trị, có bằng chứng cho thấy sự nổi dậy hòa bình chống lại bá quyền của Mỹ đã bắt đầu. Bàn cờ thế giới lần đầu tiên có sự tham gia của các đấu thủ mới không phải phương Tây. Việc giải quyết các vấn đề tài chính, thương mại quốc tế và môi trường toàn cầu được chuyển sang nhóm G-20. Các nền kinh tế mới nổi tiêu biểu là Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Braxin lại lập ra nhóm BRIC, vừa rồi mời thêm Nam Phi tham gia, chuyển thành BRICS.

Những gì diễn ra trong năm 2010 trong cuộc cạnh tranh địa-chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc tại châu Á-Thái Bình Dương có thể mới chỉ là khúc dạo đầu của một quá trình lâu dài đầy biến số. Mỹ đang tìm cách cưỡng lại việc ưu thế chiến lược và ảnh hưởng của mình tại khu vực này bị thu hẹp do sự nổi lên của Trung Quốc. Cuộc cạnh tranh đang tác động sâu sắc đến trật tự châu Á-Thái Bình Dương, bắt đầu hình thành trạng thái lưỡng cực.

Sự thách thức của Trung Quốc nổi bật trên hai mặt trận: Sự gia tăng ảnh hưởng Trung Quốc tại nhiều nước châu Á, đặc biệt là các khu vực cận biên của Trung Quốc, và về hải quân tại ba biển (Hoàng Hải, Đông Hải và Nam Hải), nơi hải quân Mỹ từ nhiều thập kỷ qua thực hiện vai trò người "lính canh" cho tự do hàng hải theo quan niệm của Mỹ.

Sự thành công 4 hiện đại hóa của Trung Quốc đã đưa nước này tham gia sâu rộng hơn vào hệ thống chính trị kinh tế an ninh toàn cầu, tất yếu tạo ra những xu hướng mới kèm theo nhiều mặt phức tạp. Tổng thống Mỹ Obama đã đề cập đến một trật tự toàn cầu mới khi tuyên bố quan hệ với Trung Quốc là quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong thế kỷ này. Ý tưởng nhóm G-2 phối hợp cùng nhau lãnh đạo thế giới được phía Mỹ nói nhiều.

Dấu hiệu của cuộc "đại mặc cả" Mỹ - Trung

Mới đây, tại Bắc Kinh các học giả Mỹ chủ động thảo luận với các đồng nghiệp Trung Quốc về một "cuộc mặc cả lớn" giữa hai cường quốc hàng đầu. Theo đó, hai bên sẽ thỏa hiệp về các vấn đề an ninh chiến lược như Đài Loan, Triều Tiên, Biển Đông, Iran và các vấn đề khác, nhằm xác lập một trạng thái cân bằng ổn định nào đó, trong đó Trung Quốc trỗi dậy mà không thách thức sự hiện diện lịch sử của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương.

Nếu đạt được một kiểu thỏa thuận nào đó, Trung Quốc sẽ được khuyến khích đầu tư hàng nghìn tỷ USD vào nền kinh tế Mỹ. Cho đến nay những khoản đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ là không đáng kể do chịu nhiều ràng buộc. Nếu hai bên tạo được một thỏa thuận đột phá, nó sẽ giúp nước Mỹ giảm số nợ công và tạo nhiều công ăn việc làm tại Mỹ. Nhưng cái khó so với cuộc mặc cả lớn giữa Anh và Mỹ đầu thế kỷ trước, khi Anh là đế quốc đi xuống còn Mỹ là đế quốc đang vươn lên, là sự khác biệt lớn về văn hóa chính trị, chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc được kích hoạt sau sự kiện Thiên An Môn 1989 ngày càng khó kiểm soát, và thế giới ngày nay đã đa dạng hóa, với nhiều trung tâm quyền lực.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì và Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Ảnh: vietnamplus

Tháng Giêng này đang diễn ra khá nhiều sự kiện thuận nghịch trong quan hệ Trung-Mỹ. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì thăm Mỹ 4 ngày (4-8/1) thảo luận một loạt vấn đề, từ hợp tác chiến lược đến các thỏa hiệp mà Trung Quốc có thể chấp nhận được về kinh tế, thương mại song phương. Ngày 10/1, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert Gates thăm Bắc Kinh tìm kiếm sự thỏa thuận thúc đẩy hợp tác quân sự Mỹ-Trung sau một năm sóng gió. Hai cuộc thăm làm việc này nhằm chuẩn bị cho cuộc gặp thượng đỉnh Trung-Mỹ tại Washington bắt đầu ngày 19/1. Những gì đạt được hoặc không thỏa thuận được tại Thượng đỉnh lần này sẽ tác động không nhỏ đến chiều hướng vận động của đời sống quốc tế, đặc biệt là châu Á-Thái Bình Dương, trong thập kỷ mới. Trước mắt có thể là một sự hòa hoãn tạm thời.

Vấn đề lớn, đó là liệu Mỹ có thể duy trì vai trò cường quốc hàng đầu bao nhiêu lâu nữa nếu nền kinh tế không còn thống trị hay rơi vào tình trạng xuống dốc theo kiểu Nhật Bản: giảm phát và sự tăng trưởng chậm chạp kéo dài? Bà Clinton thừa nhận: Nước Mỹ "không còn sống trong một thế giới nơi Mỹ gần như độc quyền về thông tin và mọi phương tiện quyền lực".

Còn phía Trung Quốc, liệu mô hình mà họ theo đuổi có khả năng chi phối thế kỷ 21 như thế nào? Thực tế là, Trung Quốc có nhiều "bạn đường" - những nước nằm dưới ảnh hưởng sâu sắc của Trung Quốc về kinh tế, đầu tư trực tiếp và ODA - nhưng tỏ ra có rất ít đồng minh thực sự. Xem ra, Trung Quốc với tư cách một cường quốc hàng đầu, còn phải làm nhiều điều để xây dựng văn hóa chính trị mang tính dung nạp và khoan hòa thì mới cạnh tranh thành công với Mỹ bằng "quyền lực mềm". Các nước nhỏ và vừa thường xem trọng việc nước lớn làm hơn là tin vào lời họ nói.

Việt Nam: Dừng lại là tụt hậu

Về phần Việt Nam ta, sau hai thập kỷ cải cách và mở cửa với nhiều thành tựu ấn tượng, chúng ta đã tạo nên hình ảnh tích cực trong lòng thế giới. Việt Nam đã trả món học phí khá lớn để đạt được 100 tỷ USD về GDP. Đó là một bước tiến đáng khích lệ khi so với "ta". Nhưng nếu so với "người" thì vẫn là khiêm nhường: Con số đó chỉ bằng một phần tư hoặc phần năm GDP của một tỉnh trung bình tại Trung Quốc, hoặc bằng doanh thu của 2 tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bằng ½ doanh thu 1 tập đoàn kinh tế Mỹ, trong khi ta phải bỏ vào đó bao nhiêu là nhân lực và tài nguyên.

Câu nói cửa miệng "cần đổi mới mô hình phát triển", "cần đổi mới cơ cơ cấu kinh tế" xem ra đã trở nên hiền lành khi đứng trước tính khốc liệt của cuộc cạnh tranh toàn cầu thập kỷ mới, vào lúc các quốc gia quanh ta đang tái cơ cấu kinh tế một cách quyết liệt để tiếp tục đà tăng trưởng hoặc bứt phá về phía trước. Con tàu kinh tế Việt Nam trải qua 20 năm vận hành có thể đã cán đích xét từ những giới hạn về nhân lực giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên v.v... Trong khi xuất hiện những bất cập, như công nợ, môi trường, khoảng cách giàu nghèo... Ta dừng lại nghĩa là ta tụt hậu. Đến cuối thập kỷ này rất có thể nước bạn láng giềng gần gũi là Campuchia sẽ vượt Việt Nam về tốc độ tăng trưởng và trình độ hiện đại hóa.

Bài toán kinh tế giai đoạn tiếp theo của Việt Nam là gỉ? Việt Nam sẽ hiện đại hóa nông nghiệp như thế nào? Các ngành công nghiệp của nước ta sẽ tạo ra sản phẩm gì có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới? Việt Nam sẽ công nghiệp hóa hay vẫn dựa nhiều vào gia công xuất khẩu? Việt Nam sẽ phát huy thế nào lợi thế địa-chiến lược/kinh tế để gia tăng xuất khẩu sang các thị trường khổng lồ như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, ASEAN? Hay sẽ thành thị trường tiêu thụ cho các nền kinh tế này? Người Việt Nam chuyển đổi tư duy đến mức nào rồi nhằm biến "thách thức đến từ Trung Quốc thành cơ hội đến từ Trung Quốc"? Các câu trả lời sẽ rõ trong thập kỷ thứ hai này của thế kỷ 21.

Đang diễn ra một sự kiện: Các nhà đàm phán Việt Nam đang chính thức tham gia vào quá trình hình thành thỏa thuận Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - một tổ chức tự do thương mại cao hơn tiêu chuẩn WTO do Mỹ cầm đầu. Đoàn tàu này hiện nay chỉ có 9 "toa". Nhật Bản đang thu xếp khác biệt quan điểm nội bộ để không bị đặt ra ngoài cuộc chơi mới của thế kỷ 21. Nếu TPP thành tựu vào cuối năm nay hoặc đầu năm sau, nền ngoại thương Việt Nam sẽ có một cú huých mới, đòi hỏi nhiều chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước.

Một năm bắt đầu bằng mùa Xuân. 2011 còn mở đầu một thập kỷ mới. Mỗi người cần có hoài bão và chí lớn. Quốc gia dân tộc cần khát vọng, động lực và xung lực mới. Trên hết, dân tộc cần được dẫn dắt bởi tầm nhìn trí tuệ.

Source: tuanvietnamnet, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-01-10-dinh-vi-viet-nam-trong-dong-chay-bien-ao-cua-the-gioi-


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét