Lạc Việt độn toán phần 1
Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương
Nguyên lý lý thuyết của Lạc Việt độn toán
Tri thức khoa học hiện đại thừa nhận tiêu chí khoa học này. Vấn đề ở đây là qui luật đó là qui luật gì, phản ánh một thực tại nào và khi đã chứng tỏ một khả năng tiên tri thì đằng sau nó phải là một lý thuyết khoa học...
1 - Sự ra đời của Lạc Việt Độn Toán
Một phương pháp hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng thì phải có tính hệ thống, tính nhất quán, tính quy luật, tính khách quan và có khả năng tiên tri. Tiêu chí khoa học.Tri thức khoa học hiện đại thừa nhận tiêu chí khoa học này. Vấn đề ở đây là qui luật đó là qui luật gì, phản ánh một thực tại nào và khi đã chứng tỏ một khả năng tiên tri thì đằng sau nó phải là một lý thuyết khoa học.
Vậy khả năng tiên tri của các phương pháp dự báo thuộc Lý học Đông phương cổ phải phản ánh một qui luật nào đó của vũ trụ, tính khái quát càng lớn chứng tỏ tính quy luật càng rất bao trùm. Vấn đề là chúng ta hiểu gì về thực tại vận động của những qui luật đó qua những phương pháp dự đoán thuộc Lý học Đông phương. Lạc Việt độn toán đã thoả mãn yêu cầu đó bởi tính khái quát cao: chỉ có 48 quẻ để dự báo cho tất cả sự vật sự việc từ nhỏ đến lớn so với quẻ Dịch có 64 quẻ và tính chi tiết hoàn hảo cho từng hào. Điều này chứng tỏ Bốc Dịch với 64 quẻ là sản phẩm được hoàn hảo ở một giá trị nhận thức về vũ trụ, trái đất và con người sâu hơn Lạc Việt độn toán. Chúng ta có thể nhận xét rằng Lạc Việt độn toán trên thực tế ra đời trước khi có phương pháp Bốc Dịch. Nói một cách khác: Lạc Việt độn toán có tính khái quát và gần với những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, tuy không sâu và chi tiết bằng Bốc Dịch. Nhưng vì tính thất truyền của một nguyên lý lý thuyết phản ánh một thực tại đã tạo dựng ra nó và sự sai lệch do thất truyền nên phương pháp Bốc Dịch trở nên huyền bí và có những sai lệch và đây cũng là tình trạng chung của các phương pháp tiên tri phương Đông . Trên đây cũng chỉ là ý tưởng ban đầu về sự suy luận tính lịch sử thời gian của sự ra đời hai phương pháp Bốc Dịch và Lạc Việt độn toán. Hy vọng đó sẽ là những ý tưởng để sau này có ai nghiên cứu về lịch sử hình thành các phương pháp tiên tri của Lý Học Đông phương sẽ tiếp tục tìm hiểu và tìm ra những lời giải cho các hiện tượng từ hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn năm trước.
Tôi không tự cho mình là người sáng taọ ra môn Lạc Việt độn toán. Mà chỉ là người phục hồi lại môn này và những nguyến lý của nó từ những di sản còn lại lưu truyền trong văn hoá phương Đông. Hay nói cách khác: Nội dung của Lạc Việt độn toán đã tồn tại trên thực tế từ hàng thiên niên kỷ trước. Nó đã bị thất truyền khi nền văn minh Việt sụp đổ ở miến nam sông Dương Tử. Nay được phục hồi lại nhân danh nền văn hiến Lạc Việt.
2 –Những di sản còn lại – Bát môn độn giáp và Lục Nhâm Đại độn
Lạc Việt độn toán coi Bát Môn và Lục Nhâm là hai yêú tố cấu thành quan trọng khi phối với Âm Dương Ngũ hành và nguyên lý căn của Lý học Đông phương thuộc về văn minh Việt là ’’Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ’’. Xin xem ’’Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” và ’’Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt”.
Nhưng Bát môn độn giáp và Lục Nhâm đại độn nguyên thuỷ vốn chỉ là hai phương pháp dự báo rất đơn giản còn lưu truyền trong dân gian và không liên quan gì đến nhau. Phương pháp độn của Bát Môn và Lục Nhâm lần lượt như sau:
2-1/ Phương pháp độn Lục Nhâm Đại độn lưu truyền trong dân gian
Lời truyền trong dân gian
Phương pháp này căn cứ trên một đồ hình chia làm 6 cung và mỗi cung có tên gọi như hình trên. Có hai cách lấy quẻ cho phương pháp này là:
2 – 1 – 1: Phương pháp lưu truyền ở miền Bắc Việt Nam
* Bắt đầu từ cung Đại An là năm Tý, tính thuận theo chiều kim đồng hồ lần lượt mỗi năm một cung, đến năm định toán thì dừng lại. * Lấy cung đó làm tháng Giêng cũng theo chiều kim đồng hồ mỗi tháng một cung, đến tháng định toán thì dừng lại. * Lấy cung đó làm ngày mùng Một của tháng, thuận theo chiều kim đồng hồ lần lượt mỗi ngày một cung cho đến ngày định toán thì dừng lại. * Lấy cung đó làm giờ Tý, thuận theo chiều kim đồng hồ, mỗi cung một giờ, đến giờ định toán thì dừng lại. Khi giờ dừng ở cung nào thì được quẻ đó.Thí dụ:* Năm Mậu Tý, Tháng Hai, ngày 24, giờ Mùi (Từ 13g đến 15 giờ).Năm Tý tại cung Đại An. Tháng Giêng cũng tại đây, tháng Hai sẽ ở cung Lưu Niên. Ngày mùng Một tháng Hai cũng bắt đầư từ cung Lưu Niên. Đếm thuận mỗi cung một ngày thì ngày 24 ở cung Đại An. Giờ Tý tính từ cung Đại An lần lượt mỗi cung một giờ thì giờ Mùi sẽ ở cung Lưu Niên. Đến đây chúng ta được quẻ Lưu Niên theo phương pháp lưu truyền ở miền Bắc Việt Nam.* Năm Kỷ Sửu, tháng Năm, ngày 19 giờ Ngọ (Từ 11g đến 13g)
Năm Tý ở cung Đại An thì năm Sửu ở cung Lưu Niên. Tháng Giêng cũng tại đây. Tháng Năm theo thuận tự từ Lưu Niên là 1 đếm đến tháng 5 sẽ ở Vô Vong. Ngày mùng Một từ Vô Vong đếm thuận đến ngày 19 cũng tại cung Vô Vong. Giờ Tý của ngày 19 tại cung Vô Vong đến thuận đến giờ toán quẻ là Ngọ cũng là an tại cung Vô Vong. Như vậy t6a được quẻ Vô Vong cuả Lục Nhâm Đại độn.
2 – 1 – 2: Phương pháp lưu truyền ở miền Nam Việt Nam
Tôi trích dẫn dưới đây là bài của Thái Tuế trên trang tuvilyso.com giới thiệu về phương pháp toán Lục Nhâm Đại độn còn lưu truyền phổ biến ở miến Nam Việt Nam, để tham khảo.
Môn độn toán này do ông Lý Thuần Phong sáng chế. Tài liệu môn này đã thất truyền.
Qua sự tìm tòi cổ thư ghép nhặt và tổng hợp các yếu tố có liên quan trong môn học này (không biết có trùng với bản chính không?) khi mang ra ứng dụng thấy xác liệu dự đoán rất phù hợp với công việc của nhiều người.
Vì khảo cứu trong tình huống thiếu thốn tài liệu, nên đỉnh cao của môn học không đạt tới được. Rất ước mong sự đóng góp khảo cứu của nhiều người có cơ hội biết môn này.
Khởi tháng Giêng ở cung Đại An, thứ tự theo chiều kim đồng hồ, mỗi cung một tháng, cho đến tháng cần toán. Sau khi có cung của tháng, ta khởi ngày mùng MỘT ở cung đó, đếm thuận mỗi cung một ngày tới ngày hiện tại. Ta khởi cung đó là giờ TÝ, đếm mỗi giờ một cung cho tới giờ hiện tại.
Thí dụ: Ngày 09 tháng 09 âm lịch, giờ Tị, có người nhờ tính, ta lấy cung như sau:
- Tháng 09 ở cung Tốc Hỉ, ngày 9 ở cung Tiểu Cát, giờ Tị ở cung Xích Khẩu. Vậy ta có tháng Tốc Hỷ, ngày Tiểu Cát, giờ Xích Khẩu.
- Ở độn toán, người ta chỉ dùng ngày và giờ để tính, còn cung tháng chỉ phụ giúp thôi.
- Ngày là chủ, là mình. Gìơ là khách, là việc.
- Tháng phụ gúp cho hai ý trên theo tuổi.
Như vậy, so sánh giữa hai phương pháp tính quẻ Lục Nhâm Đại độn (Có nơi gọi là Lục Nhâm Tiểu độn) lưu truyền ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam thì chúng khác nhau ở chõ căn bản là: Phương pháp toán lưu truyền ở miến Bắc có tính năm theo Âm lịch và phương pháp ở miền Nam thì chỉ tính tháng.
Lưu ý:
* Xuất phát từ tính hợp lý của vấn đề về vị trí của Lục Nhâm đại độn trong Lạc Việt độn toán thì chúng ta ứng dụng việc toán quẻ Lục Nhâm Đại độn theo phương pháp toán quẻ lưu truyền ở miến Bắc. Tức là có tính năm. Năm Tý bắt đầu từ cung Đại An.
* Để tiện việc tính nhanh, các ngày mùng 1, mùng 7, 13, 19, 25 bao giờ cũng cùng một cung.
2 – 1 – 3: Kết luận
Lạc Việt độn toán dùng phương pháp độn Lục Nhâm Đại độn lưu truyền ở miến Bắc Việt Nam làm phương pháp độn chính thức cho Lục Nhâm đại độn Lạc Việt độn toán.
2 – 2 : Phương pháp độn Bát môn độn giáp lưu truyền trong dân gian
Bát môn có ký hiệu các cung hoàn toàn giống môn Thái Ất thần kinh và Kỳ môn độn giáp. Đồng thời 9 cung trên Bát môn cũng là đồ hình căn bản của thuật toán Thái Ất và Độn giáp.
Lưu truyền trong dân gian.
2 – 2 – 1: Phương pháp toán quẻ Bát Môn Đại độn lưu truyền ở miền Bắc Việt Nam
Phương pháp này không tính năm, mà bắt đầu từ cung Sinh tính là tháng Giêng, đếm thuận theo chiều kim đồng hồ đến tháng cần toán. Từ cung này tiến lên một cung là tính là ngày mùng Một của tháng đó, đếm thuận theo chiều kim đồng hồ đến ngày cần toán. Tiến lên một cung là giờ Tý, đếm thuận mỗi cung một giờ đến giờ cần toán. Dừng lại ở cung nào ta được quẻ Bát Môn Đại độn ở cung đó. Thí dụ:* Tháng ba, ngày 24, giờ Tỵ (Từ 9g đến 11g)Bắt đầu từ cung Sinh là tháng thứ nhất, đếm đến tháng Ba là cung Đỗ. Tiến lên một cung là cung Cành là ngày mùng Một đếm đến ngày 24 là cung Đỗ. Tiến lên một cung là cung Cảnh lấy là giờ Tý đếm đến giờ Tỵ lại là cung Đỗ. Quẻ lấy được theo phương pháp Bát Môn Đại độn là quẻ Đỗ.* Tháng 9, ngày 19, giờ Thân.Tháng Giêng từ cung Sinh đếm đến tháng 9 vẫn là cung Sinh. Tiến lên một cung ngày mùng Một vào cung Thương. Từ cung này đếm thuận đến ngày 19 ở cung Cảnh. Tiến lên một cung thì giờ Tý ở cung Tử, đếm thuận đến giờ Thân là cung Tử. Quẻ Bát Môn độn giáp lấy được là quẻ Tử.
2 – 2 – 2: Phương pháp toán quẻ Bát Môn Đại độn lưu truyền ở miền Nam Việt Nam
Có hai cách toán Bát môn độn giáp:
2 – 2 – 2 – 1: Phương pháp toán Bát Môn thứ nhất:
Tính thuận theo chiều kim đồng hồ khởi tháng Giêng từ cung Sinh, tiếp đến
Tháng 2/3 đồng cung tại Thương.
Tháng 4 cung Đỗ.
Tháng 5/ 6 đồng cung tại Cảnh.
Tháng 7 cung Tử.
Tháng 8/ 9 đồng cung tại Kinh.
Tháng 10 cung Khai
Tháng 11/ 12 đồng cung tại Hưu.
Trong phương pháp này, các tháng Mộ của tứ hành vào chung một cung với tháng vượng của hành đó. Xuân thuộc Mộc. Tháng 3 là Mộ của Xuân, ghép vào tháng 2......Như vậy ta có đủ 12 tháng phối với Bát môn.
Với phương pháp này ta thấy:
* Phép độn Bát Môn thuận theo 4 mùa, điều này phối Hà Đồ là hợp lý. Đây cũng là đồ hình của 12 thiên bàn Tử Vi - Ngũ hành tương sinh thuận theo chiều kim đồng hồ của Hà Đồ. Cách phối này xác quyết sự phối Bát Môn với Hà đồ ở trên.
* Do có hai tháng bị trùng quẻ theo mùa, nên sự tuần hoàn bị chựng lại theo mùa, có nghĩa là đến tháng cuối của mùa nào thì quẻ sẽ trùng với tháng trước đó.
2 – 2- 2- 2: Phương pháp toán Bát Môn thứ hai:
Tháng Giêng tại cung Sinh, tính thuận mỗi cung một tháng cho đến hết 12 tháng. Phương pháp độn này sẽ cho 4 tháng cuối năm có các quẻ lặp lại với 4 tháng đầu năm. Vì đồ hình Bát Môn được luận theo thuận tự 12 tháng trong năm, nên cũng xác quyết cho chúng ta về sự phối Bát Môn với Hà Đồ (Hà Đồ: Bốn mùa - Ngũ hành tương sinh - theo chiều thuận kim đồng hồ).
Như vậy, thoạt nhìn dễ nhận thấy sự hợp lý của phương pháp 1. Nhưng nếu so sánh với qui luật vận động liên tục và lặp lại của tự nhiên và vũ trụ, thì không thể có sự lặp lại theo cùng đơn vị thời gian trong tự nhiên. Bởi vậy, không thể có quẻ lặp lại theo từng tháng mùa.
Theo phương pháp thứ hai - cũng là điều liên quan đến phương pháp Bốc Dịch theo giờ do ông Thiệu Khang Tiết công bố vào thời Tống - chúng ta sẽ có 8 quẻ Dịch liên tiếp nhau thuộc 8 giờ đầu trong ngày và 4 quẻ dịch lặp lại trong 4 giờ cuối, giờ ta là 2 giờ đồng hồ Tây,cho thấy có sự trùng khớp hợp lý giữa tự nhiên và phương pháp bốc Dịch, nên tôi đã chứng nghiệm và chọn cách tính tháng theo phương pháp 2 cho Lạc Việt độn toán.
Tuy nhiên tôi công nhận tính thiếu vắng của toán năm trong quá trình tìm hiểu Bát môn trong Lạc Việt độn toán. Hy vọng sau này bạn đọc nghiên cứu Lạc Việt độn toán phát hiện ra phương pháp tính năm mà thấy hợp lý về nhiều phương diện thì chúng ta có thể hiệu chỉnh và thay đổi.
Lưu ý:
* Xuất phát từ tính hợp lý của vấn đề về vị trí của Bát Môn độn giáp trong Lạc Việt độn toán thì chúng ta ứng dụng việc toán quẻ Bát Môn độn giáp theo phương pháp toán quẻ lưu truyền ở miến Bắc, tức cũng phương pháp một ở Miền Nam. Tức là mỗi tháng thuận tự tiến lên một cung, bắt đầu từ cung Sinh.
* Để tiện việc tính nhanh, các tháng 1, tháng 9 bao giờ cũng cùng một cung. Các ngày mùng 1, mùng 9, 17, 25 cùng một cung.
2 – 2 – 3: Kết luận
Lạc Việt độn toán dùng phương pháp độn Bát Môn Độn giáp lưu truyền ở miến Bắc Việt Nam và phương pháp 1 trùng khớp lưu truyền ở miền Nam Việt Nam làm phương pháp độn chính thức cho Bát Môn trong Lạc Việt độn toán
3 – Năng lượng cực lớn
Chúng ta chắc chẳng bao giờ biết được năng lượng của một que diêm cháy loé lên cách chúng ta 10 km, đơn giản vì năng lượng của que diêm quá nhỏ. Nhưng người ta vẫn nhận ra hình ảnh một ngôi sao bùng vỡ cách chúng ta hàng ngàn năm ánh sáng, vì năng lượng của chúng cực lớn. Đây chỉ là một hình ảnh thí dụ để chúng ta xem xét sự tồn tại của Bát Môn và Lục nhâm dưới một hình thức đơn giản .
Tại sao những phương pháp độn đơn giản như Bát Môn và Lục Nhâm ít thông tin hơn cả bói chân gà, mà lại có thể xuyên suốt hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử?
Phải chăng trước đây nó vốn là một môn dự đoán rất chính xác và hoàn chỉnh, nhưng sự thăng trầm của lịch sử đã làm nó mai một và rời rạc một cách vô tình hoặc cố ý?
Phải chăng trước đây nó đã từng như một vì sao chứa năng lượng cực lớn còn tồn tại đến bây giờ cùng với sự bùng vỡ của một nền văn minh từ hàng ngàn năm trước? Chính từ ý nghĩ đó tôi đã đi đến quyết định ứng dụng thuyết Âm Dương Ngũ Hành - là một học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh, nhất quán với nguyên lý căn của học thuyết này là Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ từ văn minh Lạc Việt mà sách cổ chữ Hán không thể hiện điều này để phục hồi môn Lạc Việt độn toán.
Phương pháp dự báo của Lạc Việt độn toán ứng dụng trên thực tế từ nhiều năm qua trên mọi phương diện do tác giả và những anh chị em nghiên cứu tham khảo thực hiện đã cho thấy khả năng dự báo rất hiệu quả của môn này. Sự phục hồi môn Lạc Việt độn toán từ những di sản văn hoá phi vật thể lưu truyền trong dân gian chính là một bằng chứng sắc sảo không chỉ minh chứng cho sự hoàn chỉnh nhất quán và tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Lạc Việt mà còn là một bằng chứng cho thấy một nền văn minh đã thất truyền vì lịch sử bị vùi lấp. Đó chính là nền văn hiến của người Lạc Việt trải gần 5000 năm, một thời huyền vĩ ở miền nam Dương Tử.
4 – Nguyên lý căn đế của Lạc Việt độn toán.
Chúng ta cũng cần phải tiếp tục tìm hiểu cả thực tại nào đã tạo nên sự nhận thức để tổng hợp thành hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành có khả năng ứng dụng một cách rộng rãi trên khắp các lĩnh vực từ vũ trụ đến mọi vấn đề của cuộc sống và con người?...
Nếu chúng ta chỉ học và tìm hiểu phương pháp ứng dụng để dự trắc không thôi, thì đó là hiểu phần ngọn. Muốn biết sâu thêm, ngoài việc chúng ta dùng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì chỉ là hệ quả của một lý thuyết, không phải là bản thân lý thuyết đó, chúng ta cũng cần phải tìm hiểu cả nguyên lý và thực tại nào đã tạo nên sự nhận thức để tổng hợp thành nguyên lý lý thuyết đó. Nhưng thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết đã thất truyền hoàn toàn. Tất cả những cái gì còn lại chỉ là sự giải thích theo phương pháp luận của nó. Trong các bản văn chữ Hán cổ kim, không thể hiện tính hoàn chỉnh của học thuyết này. Trong Hoàng Đế Nội kinh tố vấn, thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện bằng phương pháp luận của nó. Nhưng phương pháp luận chỉ là hệ quả của một lý thuyết và không phải bản thân lý thuyết đó.
Ngay chính cả các nhà nghiên cứu Trung Hoa hiện đại cũng như cổ xưa, đến bây giờ cũng thừa nhận chưa thể biết được nguồn gốc đích thực của học thuyết này.
Do đó, khi chúng ta dùng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì đó cũng chỉ là hệ quả của một lý thuyết, không phải chính bản thân lý thuyết đó. Chúng ta cũng cần phải tiếp tục tìm hiểu cả thực tại nào đã tạo nên sự nhận thức để tổng hợp thành hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành có khả năng ứng dụng một cách rộng rãi trên khắp các lĩnh vực từ vũ trụ đến mọi vấn đề của cuộc sống và con người? Hiện nay, nếu coi hệ thống những luận điểm nhân danh nền văn hiến Việt là đúng thì chúng ta mới chỉ dừng lại ở mối liên hệ hợp lý và nhất quán giữa các vấn đề liên quan trên một nguyên lý nhất quán. Nhưng chưa xác định được định lượng các mối liên hệ thực tại nào làm nên lý thuyết này. Đây sẽ là quá trình lâu dài, gian khổ và tốn nhiều tâm huyết của nhiều thế hệ. Tuy nhiên, căn cứ vào những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết hoặc một phương pháp hay giả thiết khoa học, chúng ta đủ cở sở để ứng dụng một cách nhất quán nguyên lý được phục hồi để phục chế lại những giả trị văn hoá khoa học cổ đại, mà một trong những giá trị này chính là phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán.
Ngay trong Lạc Việt độn toán, nếu không hiểu gì về thuyết Âm Dương Ngũ hành mà chỉ biết phương pháp độn thì cũng có thể độn quẻ và dự báo được. Bởi vì ý nghĩa của từng quẻ đã cho một khái niệm định tính của sự kiện cần chiêm đoán.
Tình trạng chung của tất cả các môn dự báo Đông Phương có liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành đều như vậy: Chúng ta chỉ biết phương pháp ứng dụng, còn nguyên lý và lý thuyết thì rất mơ hồ.
Bởi vậy, tôi chẳng quản tài hèn, cố gắng đem đến cho các bạn những phát kiến của mình, nhằm phục hồi lại những nguyên lý và giá trị đích thực của nền Lý học Đông phương.
Những phát kiến này căn cứ theo tiêu chí khoa học hiện đại nhất cho rằng:
* Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán, thể hiện được tính khách quan, tính qui luật và khả năng tiên tri.
* Một lý thuyết khoa học mới phải dung nạp được những lý thuyết khoa học trước đó phản ánh những qui luật thực tại đã được thừa nhận. Đây cũng chính là lý do để tôi thấy cần phải trình bày những nguyên lý căn bản của môn này trước khi nêu cụ thể phương pháp độn của Lạc Việt độn toán.
4 – 1:
Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt.
Trong các sách và bài viết của mình, đặc biệt là cuốn ’’Hà đồ trong văn minh Lạc Việt” và ’’Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, tôi đã chứng minh Hà đồ chính là đồ hình căn bản trong Lý học Đông phương và hoàn toàn không phải là Lạc Thư như cổ thư chữ Hán nói tới.
Hà Đồ chính là một đồ hình phản ảnh một thực tế sự vận động và tương tác có tính qui luật của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ với Địa cầu, được qui ước hoá với tri thức thuộc về nền văn minh cổ thể hiện trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Trước đây trong những cuốn sách và bài viết của tôi chỉ mang tính lập luận hợp lý giữa những hiện tượng và vấn đề liên quan. Nhưng với trình thiên văn Sky mapro kiểm chứng vị trí của Ngũ tinh trên bầu trời từ hàng ngàn năm trước CN và hàng ngàn năm sau thì có thể khẳng định đây là một vấn đề không cần phải bàn cãi về tính khoa học và cả tính hợp lý trong lý luận cũng như trên thực tế. Tất cả các nhà khoa học về vật lý thiên văn trên thế giới và mọi người có điều kiện quan sát thiên văn có thể kiểm chứng điều này. Từ đó, tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng:
Huyền thoại Long Mã hiện trên sông Hoàng Hà mang Hà Đồ và vua Phục Hy căn cứ vào đó để làm ra Tiên thiên bát quái là một câu chuyện....huyền thoại đúng nghĩa và không có giá trị thực tế.
Tiêu chí khoa học đã xác quyết rằng:
Tính quy luật làm nên khả năng tiên tri và vạn vật đều có tương tác. Căn cứ trên cơ sở khoa học này thì chúng ta có thể khẳng định rằng sự vận động có tính quy luật của các hành tinh trên Thái Dương hệ (Hậu Thiên), chính là cơ sở của Hậu Thiên Bát quái. Bởi vậy, Lạc Việt độn toán lấy ’’Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt” làm nguyên lý căn để về nguyên lý lý thuyết. Điều này thể hiện tính nhất quán trong nguyên lý học thuật cổ Đông phương thuộc về văn minh Lạc Việt, có khả năng lý giải một cách hợp lý những vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó. Nguyên lý này ứng dụng một cách nhất quán trong việc lý giải mọi phương pháp và hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương từ Tử Vi, bốc Dịch, phong thuỷ..vv... Là cơ sở cho sự hiệu chỉnh và phục hồi những giá trị của học thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thất truyền. Tính nhất quán là một trong yếu tố cần chứng tỏ một lý thuyết được coi là khoa học.Bởi vậy sự trùng khớp giữa đồ hình Bát Môn và Hà Đồ một lần nữa chứng tỏ tính hoàn chỉnh và nhất quán của nguyên lý ’’Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”.
So sánh hai hình sau đây, chúng ta sẽ nhận thấy điều này.
Đồ hình Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt
(Đã xoay lại theo qui ước của bản đồ hiện đại)

Để chứng tỏ rõ hơn nguyên lý này, chúng ta nghiệm lý như sau: trên Cửu cung Hà Đồ và Cửu Cung Lạc thư đều có từng cặp Ngũ hành cho tám cung (Bát Môn) - Hà Đồ tính thuận theo chiều kim đồng hồ theo chiều Ngũ hành tương sinh và Lạc Thư tính nghịch theo chiều kim đồng hồ theo chiều Ngũ hành tương khắc. Điều này được minh hoạ bằng hình dưới đây:
Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc
Nguyên lý căn để thuộc về văn hiến Việt
Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương
Tương truyền có xuất xứ từ trên lưng con rùa thần trên sông Lạc.Vua Văn Vương căn cứ vào đấy để làm ra Hậu Thiên Văn Vương. So sánh hai đồ hình trên chúng ta thấy hai cụm: Thuỷ (Hiển thị màu xanh Dương) - Càn (Tây Bắc), độ số 6, Khảm (Chính Bắc) độ số 1 và Mộc (Hiển thị màu xanh lá cây) – Cấn (Đông Bắc) độ số 8, Chấn (Chính Đông) độ số 3 có vị trí và phương vị hoàn toàn giống nhau.
Nhưng đến hai cụm Hoả và Kim thì có những khác biệt sau đây:
* Ở Lạc Thư: Phía Đông Nam và chính Nam là độ số của Âm Dương Kim số 4 – 9 phối quái Ly Hoả và quái Tốn Mộc (Theo sách Hán) .
Ở Hà Đồ: Phía Đông Nam và chính Nam là độ số của Âm Dương Hoả số 2 – 7 phối quái Ly Hoả và quái Khôn Thổ.
* Ở Lạc Thư: Phía Tây Nam và chính Tây là độ số của Âm Dương Hoả, số 2 – 7 phối quái Khôn Thổ và quái Đoài Kim.
Ở Hà Đồ: Phía Tây Nam và chính Tây là độ số của Âm Dương Kim số 4 – 9 phối quái Tốn Âm Kim và quái Đoài Dương Kim. Ta thấy:
Về nguyên tắc (Về lý): Bát môn chỉ có thể hoặc phối Lạc Thư hoặc phối Hà Đồ. Và dù phối với đồ hình nào thì trên Bát môn độn giáp cũng phải có hai cặp cùng hành tương ứng. Đây là tiền đề thứ nhất. Từ đó cho chúng ta một hệ quả là sự nghiệm suy sau:
4-1-1
Chúng ta nhận thấy rằng:
Khai - sự trôi chảy, sự dẫn hướng hành Thuỷ. Như vậy cặp cùng hành với Khai là Hưu trên Bát Môn cũng phải thuộc Thuỷ (Hưu: Thuỷ Tù - sự ngưng trệ). Trong các sách cổ như Thái Ất, Kỳ Môn đều coi Khai Hưu thuộc Thuỷ.
Khai Hưu thuộc Thuỷ thì Sinh Thương tiếp theo phải thuộc Mộc dù phối Bát Môn với Lạc Thư hay Hà Đồ (xem hình trên).
4-1-2: Nếu chúng ta sắp Bát môn với bất cứ Lạc Thư hoặc Hà Đồ thì cũng sẽ có hai hành hợp lý tiếp nối là:
* Lạc thư: Đỗ Cảnh thuộc Kim, độ số 4 - 9.
Hà Đồ : Đỗ Cảnh thuộc Hoả, độ số 2 - 7.
* Lạc thư: Tử Kinh thuộc Hoả, độ số 2 - 7
Hà Đồ: Tử Kinh thuộc Kim, độ số 4 - 9.
Theo suy lý về khái niệm trực tiếp của danh từ thì tôi thấy Đỗ Cảnh : Sự thành đạt, vẻ đẹp thì đây chính là nội dung gần gũi của quẻ Ly thuộc Hoả.
Do đó hai cung Đỗ Cảnh hoàn toàn phù hợp với Hà Đồ nằm ở phương Nam tương ứng với quái Ly.
Tương tự, sự chứng nghiệm cho thấy hai cung Tử Kinh phù hợp với hành Kim, có tính sát phạt, đồng nghĩa với khái niệm trực tiếp của hai danh từ này. Sự phối Bát môn với Hà Đồ còn cho chúng ta phương vị của Bát Môn cũng chính là phương vị của Hà Đồ. Tính hợp lý của sự phối hợp này còn cho chúng ta sự hợp lý của mọi vần đề liên quan.
Bởi vậy: Đồ hình căn bản và là nguyên lý của Bát Môn chính là Hà Đồ.
Ta cũng dễ dàng nhận thấy:
Trong Bát môn độn giáp lưu truyền trong dân gian, các quẻ không có ngũ hành và phương vị từng quẻ riêng biệt chỉ có khái niệm của quẻ đó qua tên quẻ.
Đồ hình Lạc thư nếu không phối Hậu Thiên, cũng không thể xác định phương vị qua độ số. Bởi vì, nếu xét riêng Lạc Thư gọi 1 Thuỷ là phương Bắc thì không thể độ số 9 - độ số của - Kim lại ở phương Nam. Nhưng ngược lại, Hà Đồ nếu đứng riêng một mình thì tự nó có phương vị tương ứng với Hậu Thiên qua độ số 1 Chính Bắc hợp với Khảm Thủy, 7 chính Nam hợp với Ly Hoả, 9 chính Tây hợp với Đoài Kim và 3 Mộc chính Đông hợp với Chấn Mộc. Bởi vây:
Hậu Thiên phối với Hà Đồ thì phương vị và ngũ hành của Tứ chính (Khảm - Chấn - Lý - Đoài), hoàn toàn phù hợp với phương vị ngũ hành của Hà Đồ và tính chất của các quái thuộc tứ chinh.
Do đó:
Bát Môn khi phối với Hà Đồ thì tám cung Bát môn sẽ có phương vị của Hà Đồ và đuợc ứng dụng trong Lạc Việt Độn Toán.
4 – 1 – 3:
Kết luận
Hà Đồ phối Hậu Thiện Lạc Việt chính là nguyên lý căn để của phương pháp ứng dụng Bát Môn độn giáp trong phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán.
4 – 2:
Hậu Thiên Lạc Việt và Hậu Thiên Văn Vương.
Nếu bạn chưa tìm hiểu gì về Bát quái gồm hai đồ hình căn bản là Tiên Thiên Bát quái và Hậu thiên bát quái, bạn có thể tham khảo các sách đã xuất bản sau đây:* Kinh Dịch – tác giả Ngô Tất Tố.
* Kinh Dịch – Đạo của người quân tử. Tác giả Nguyễn Hiến Lê.
* Kinh Dịch – Vũ trụ quan Đông phương. Tác giả Nguyễn Hữu Lượng.
Trên cơ sở này bạn sẽ có khái niệm về Hậu Thiên Văn Vương để từ đó bạn sẽ tiếp tục tham khảo cuốn:
* Tìm về cội nguồn Kinh Dịch. Tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
* Hà Đồ trong văn mijnh Lạc Việt. Tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
Để tìm hiểu về Hậu Thiên Lạc Việt.
Tạm thời tôi giới thiệu hai đồ hình này để các bạn có thể tham khảo:
Hậu Thiên Văn Vương
Tương truyền do vua Văn Vương bị giam ở ngục Dữu Lý nghĩ ra đồ hình này, căn cứ vào Lạc Thư là đồ hình xuất hiện trên lưng rủa thần trên sông Lạc
Hậu Thiên Lạc Việt
Do Nguyễn Vũ Tuấn Anh phục hồi trên cơ sở sự phân tích hợp lý các hiện tượng liên quan. Nhân danh nền văn minh Lạc Việt.
Kết luận:
Căn cứ vào những luận cứ đã chứng minh trong các sách được giới thiệu ở trên. Căn cứ theo tiếu chí khoa học hiện đại cho một lý thuyết khoa học; căn cứ vào thực tế chứng nghiệm và khả năng lý giải hợp lý các vấn để liên quan. Đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ là nguyên lý căn để của tất cả các phương pháp ứng dụng trong học thuật cổ Đông Phương, trong đó có phươpng pháp ứng dụng dự báo Lạc Việt độn toán.
Thiệu Vĩ Hoa đã viết: ”Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu ,bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng”.
5 – Lạc Thư hoa giáp nguyên tắc ứng dụng trong Lạc Việt độn toán
Sự phục hồi những nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành căn cứ theo tiêu chí khoa học được cộng đồng của tất cả các ngành khoa học thế giời thừa nhận. Sự phát kiến đầu tiên mà tôi mong các bạn tìm hiểu Lạc Việt độn toán là "Nguyên lý nạp âm trong bảng 60 hoa giáp". Đây cũng chính là nguyên lý của sự thay đổi vị trí Thuỷ Hoả để các bạn quan tâm thấy được tính qui luật và tính nhất quán, hoàn chỉnh của một học thuyết - Thuyết Âm Dương Ngũ hành - hoàn toàn không có gì là huyền bí, huyễn hoặc. Nhưng với bản Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, thì ngay chính giới học thuật, nghiên cứu Trung Hoa hiện đại cũng như cổ xưa, đến bây giờ cũng thừa nhận chưa thể biết được nguồn gốc đích thực của nó và họ vẫn cho là huyền bí khó hiểu.
Thiệu Vĩ Hoa đã viết:
”Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu ,bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng”.
Với 48 quẻ Lạc Việt độn toán, mà mỗi năm chỉ có 24 quẻ đã chứng tỏ tính đơn giản của Lạc Việt độn toán so với các phương pháp tiên tri khác. Nhưng điều dễ hiểu là sự đơn giản đó phải được bù đắp bằng tính chính xác của hệ thống lý thuyết, hoặc sự chính xác của các nguyên lý liên quan hỗ trợ, thì mới có khả năng chứng tỏ tính tiên tri hiệu quả của nó. Một trong những nguyên lý chính xác và có qui luật chính là Lạc thư hoa giáp -sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ 60 tuần hoàn của trái đất trong vũ trụ.
Lạc thư hoa giáp với tính hợp lý, tính qui luật và có hệ thống cũng như khả năng giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đã chứng tỏ tính khoa học của nó. Điều này đã được chứng minh trong cuốn ’’Thời Hùng vuơng và bí ẩn Lục thập hoa giáp’’ và cuốn ’’Hà đồ trong văn minh Lạc Việt’’, trong đó các tài liệu sưu tầm được có nguồn gốc từ cổ thư chữ Hán cổ kim, liên quan và đuợc phân tích.
Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri.
Đây là một tiêu chí khoa học mà tôi luôn nhắc nhở.
Bây giờ chúng ta so sánh bảng Lạc Thư hoa giáp nhân danh nền văn hiến Việt và bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, để thấy tính hợp lý, tính quy luật và tính hiệu quả hơn hẳn bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán.
Để có phương tiện khảo chứng trong ứng dụng của Lạc Việt độn toán, tôi xin trình bày toàn bộ bảng Lạc thư hoa giáp từ văn minh Lạc Việt dưới đây:
Ngũ vận-Kỳ thứ nhất
Lục khí - Vận 1
Tam Âm Tam Dương
Giáp Tí. Ất Sữu: Hải Trung Kim
Bính Dần. Đinh Mão: Giáng Hạ Thuỷ
Mậu Thìn. Kỷ Tỵ: Đại Lâm Mộc
Lục khí - Vận 2
Tam Âm Tam Dương
Canh Ngọ. Tân Mùi: Lộ Bàng Thổ
Nhâm Thân. Quí Dậu: Kiếm Phong Kim
Giáp Tuất. Ất Hợi: Tuyền trung Thuỷ
Lục khí - Vân 3
Tam Âm Tam Dương
Bính Tí, Đinh Sữu: Lư Trung Hoả
Mậu Dần, Kỷ Mão: Thành Đầu Thổ
Canh Thìn, Tân Tỵ: Bạch Lạp Kim
Lục khí - Vận 4
Tam Âm Tam Dương
Nhâm Ngọ, Quí Mùi: Dương Liễu Mộc
Giáp Thân, Ất Dậu: Sơn Đầu Hoả
Bính Tuất, Đinh Hợi: Ốc Thượng Thổ
Lục khí - Vận 5
Tam Âm Tam Dương
Mậu Tí, Kỷ Sữu: Trường Lưu thuỷ
Canh Dần, Tân Mão: Tùng Bách Mộc
Nhâm Thìn, Quí Tỵ: Tích Lịch Hoả
Ngũ vận-Kỳ thứ II
Lục khí - vận 1
Tam Âm Tam Dương
Giáp Ngọ, Ất Mùi: Sa Trung Kim
Bính Thân, Đinh Dậu: Thiên Hà Thuỷ
Mậu Tuất, Kỷ Hợ: Bình Địa Mộc
Lục Khí - Vận 2
Tam Âm Tam Dương
Canh Tí, Tân Sữu: Bích Thượng Thổ
Nhâm Dần, Quí Mão: Kim Bạch Kim
Giáp Thìn, Ất Tỵ: Đại Khê Thuỷ
Lục Khí - Vận 3
Tam Âm Tam Dương
Bính Ngọ, Đinh Mùi: Sơn Hạ Hoả
Mậu Thân, Kỷ Dậu: Đại Dịch Thổ
Canh Tuất, Tân Hợi: Thoa Xuyến Kim
Lục khí - Vận 4
Tam Âm Tam Dương
Nhâm Tí, Quí Sữu: Tang Đố Mộc
Giáp Dần, Ất Mão: Phúc Đăng Hoả
Bính Thìn, Đinh Tỵ: Sa Trung Thổ
Lục khí - Vận 5
Tam Âm Tam Dương
Mậu Ngọ, Kỷ Mùi: Đại Hải Thuỷ
Canh Thân, Tân Dậu: Thạch Lựu Mộc
Nhâm Tuất, Quí Hợi: Thiên Thượng Hoả.
Như vậy, chúng ta cũng nhận thấy tính qui luật và nhất quán, hoàn chỉnh của bảng Lạc thư hoa giáp.
Trong Lạc thư hoa giáp, sự khác biệt với Lục thập hoa giáp có nguồn gốc từ cổ thư chữ Hán chỉ ở hai hành thuỷ và hoả. Mọi sự minh chứng về tính hợp lý trong các vấn để liên quan xin xem sách và tư liệu đã dẫn.
Kết Luận:
Bảng Lạc Thư hoa giáp – Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ vận động trong 60 năm của trái Đất trong vũ trụ - theo cách giải thích với những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành là nguyên tắc ứng dụng chính thức trong Lạc Việt độn toán để tính sự tương tác của các hiện tượng liến quan theo0 thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt.
Tôi đưa các dị bản khác nhau của Lục Nhâm tiểu độn nhằm chứng tỏ những nguyên lý lý thuyết căn bản của các phương pháp độn toán Đông phương (bao gồm cả Tử Vi; Tử Bình....) và sự nhận thức về một thực tại là tiền đề của nó đã bị thất truyền , mà trong trường hợp này đó chính là những dị bản của Lục Nhâm tiểu độn.
Phương pháp lưu truyền ở miền Bắc có tính năm, giống cách tính trong bài viết của Thái Tuế bắt đầu năm Tý ở cung Đại An. Phương pháp ở miền Nam toán từ tháng 1 bắt đầu ở cung Đại An và không toán năm.Còn một dị bản thứ ba khác là các cung Đại An , Tốc hỷ, Tiểu cát bị lệch sang phải và thay chỗ cho nhau,dị bản này cũng tính tháng Giêng từ cung Đại an và không tính năm.Về cách gọi thì miền Bắc gọi môn này là Lục Nhâm đại độn, ở miền Nam gọi là Lục Nhâm tiểu độn. Dù với cách gọi nào thì cả ba phương pháp này đều có một nền tảng đồ hình giống nhau và đều không có sự liên hệ với Ngũ Hành.Lục Nhâm đại độn có 6 cung, có sự liênhệ với Lục khí và tương quan thực tại với chu kỳ của sao Thái tuế và chỉ có Hậu thiên bát quái Lạc Việt mới có khả năngkết hợp hai cặp quái Điên đảo dịch thành 2 cặp bất dịch và tạo thành 6 cực như sau:

Cặp bất dịch
Hậu Thiên Lạc Việt đổi chổ Tốn Khôn mới tạo được cặp bất dịch này
Trên cơ sở này mới tạo thành 6 cực liên hệ với 6 quẻ Lục Nhâm như sau:

Từ cơ sở này, tính chất của 6 cung Lục Nhâm như sau Lưu Niên: Giữ lại thời gian. Biểu tương cho sự ngăn trở hiểm ác, âm mưu… Đây chính là hành thuỷ, vậy liên hệ với quẻ Khảm. Tốc Hỷ: Niềm vui đến nhanh. Biểu tượng cho sáng sủa, vẻ đẹp…Đây chính là hành Hoả,vậy liên hệ với quẻ Ly. Xích khẩu: Tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát …Đây là thuộc tính của hành Kim,vậy liên hệ với Tốn – Đoài.Tiểu Cát: Niềm vui nhỏ, dịu dàng, mềm mỏng, vươn lên….Đây là thuộc tính của hành Mộc.vậy liên hệ với Cấn - Chấn. Như vậy tứ hành đã an vị . Còn hai quẻ nữa khởi đầu của vạn sự chính là Càn Khôn…liên hệ với: Càn – Đại An và Khôn – Vô vong.Từ đó ta thấy Lục Nhâm chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng và xung sát nhau như Khảm Thuỷ - Ly Hoả; Tốn Đoài Kim - Cấn Chấn Mộc; Khôn Âm Hoả đới Thổ - Càn Âm Kim đới thuỷ theo chiều tương khắc của Ngũ Hành. Xin xem sự mô tả dưới đây:
Khảm------------- Ly-----------------Tốn và Đoài
Thuỷ----- .....Hoả-----------------Kim
Lưu niên--------Tốc Hỷ----------Xích Khẩu
Càn------------------Khôn--------------Cấn và Chấn
Dương Thổ----------Âm Thổ-------------Mộc
Đại an----------Vô Vong-------Tiểu Cát
Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy có sự liên hệ của Hà Đồ với Bát môn và Hà Đồ - Hậu thiên Lạc Việt với Lục Nhâm. Cả hai, Bát Môn và Lục Nhâm đều có gốc từ Hà Đồ. từ đó suy luận ra chúng phải có liên hệ với nhau.
Bát Môn trực tiếp từ Hà Đồ - cái có trước - thuộc Dương sẽ Tĩnh.
Lục Nhâm có sau từ Hậu thiên Lạc Việt - hệ quả của hệ quả - thuộc Âm sẽ động.
Xin lưu ý Dương Tịnh - Âm Động là lý thuyết căn bản được phục hồi từ Văn hiến Lạc Việt. còn sách Hán thì ngược lại Dương Động - Âm Tịnh.
Đến đây ta đã thấy hai phương pháp độn Lục Nhâm và Bát Môn phải có một sự liên hệ với nhau trong một phương pháp tiên tri hoàn chỉnh.
Xét hai phương pháp ta thấy 6 cung trong Lục Nhâm chính là tượng của lục khí tương tác và là một nửa chu kỳ Âm Dương của vòng Thái Tuế.Chu kỳ sao Thái Tuế - Sao Mộc quay quanh mặt trời là 12 năm,phân Âm Dương mỗi chu kỳ là 6 năm. Trong Lạc Thư Hoa Giáp thì 6 năm vừa đúng một vận có tính qui luât. 10 vận vừa đúng một hoa giáp 60 năm; phân Âm Dương thành 2 kỷ, mỗi kỷ 30 năm, khác với Lục thập hoa giáp từ sách Hán, không thể hiện được một vận là 6 năm. Đối chiếu với các hiện tượng liên quan thì việc tính thêm năm vào phương pháp độn Lục Nhâm là hợp lý.
Phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ của Bát Môn và Lục Nhâm trong cùng một thời điểm toán quẻ.
* Bát môn thuộc Dương – theo nguyên lý Dương trước Âm sau và Dương tịnh Âm Động. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Bát Môn làm quẻ ngoại thể hiện hoàn cảnh, điều kiện bên ngoài của sự việc, sự vật cần luận đoán.
* Lục Nhâm có sau thuộc Âm. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Lục Nhâm thể hiện bản chất sự việc sự vật cần luận đoán.
Tóm lại Lạc Việt độn toán hoàn toàn dựa trên sự phục hồi của Thuyết Âm Dương Ngũ hành từ văn minh Lạc Việt, trong đó lấy Hà Đồ làm đồ hình là nguyên lý và Lục Nhâm Đại độn và Bát môn độn giáp là những mảnh còn sót lại của một phương pháp độn toán rất kỳ vĩ từ ngàn xưa. Đó là lý do môn độn toán này tồn tại hàng ngàn năm, cùng các phương pháp rất trí tuệ khác mà sự thất truyền không lớn là Thái Ất, Tử vi. Lạc Việt độn toán có tính qui luật, tính minh triết về những giá trị căn bản liên quan đến con người. Hay nói một cách khác: nó mang dấu ấn của một tri thức Hàn lâm. Lạc Việt độn toán là một phương pháp không hề tồn tại trong cổ thư chữ Hán. Do đó nó khẳng định tính nhất quán, tính hệ thống và khả năng tiên tri theo tiếu chí khoa học mình chứng cho nền văn hiến Lạc Việt một thời huyền vĩ ở bớ Nam sông Dương Tử với lịch sử trải gần 5000 năm.
Kết Luận
Bát Môn độn giáp và Lục Nhâm đại độn là hai nội dung căn bản của phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán. Quẻ Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ Bát Môn và Lục Nhâm trong cùng một thời điểm toán quẻ.
* Bát môn thuộc Dương – theo nguyên lý Dương trước Âm sau và Dương tịnh Âm Động. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Bát Môn làm quẻ ngoại thể hiện hoàn cảnh, điều kiện bên ngoài của sự việc, sự vật cần luận đoán.
* Lục Nhâm có sau thuộc Âm. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Lục Nhâm thể hiện bản chất sự việc sự vật cần luận đoán.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét